Nhập từ khóa...Tìm kiếm
Biển và Hải đảo
Biển và Hải đảo
Rong biển quần đảo Trường Sa, Nguồn lợi quan trọng phát triển kinh tế biển 
26/11/2013 
Thu mẫu rong biển dải trên vùng dưới triều tại quần đảo Trường Sa
Từ lâu, rong biển đã được biết đến như một nguồn lợi thực phẩm có nhiều giá trị dinh dưỡng cao và có tác dụng chữa bệnh. Bên cạnh đó, rong biển còn làm nguyên liệu cho rất nhiều ngành công nghiệp như thực phẩm, dệt may, mỹ phẩm, dược phẩm,.. Ở nước ta hiện nay, rong biển đang là một trong những đối tượng có nhiều triển vọng trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội. Một số nhóm rong kinh tế như rong Câu (Gracilaria), rong Đông (Hypnea), rong Mơ (Sargassum), rong Mào gà (Laurencia) và rong Kỳ lân (Eucheuma, Kappaphycus)... là những đối tượng được nuôi trồng rộng rãi phục vụ các nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Đây là một trong những ngành nghề mới góp phần đáng kể làm thay đổi bộ mặt các vùng nông thôn nhất là các vùng nông thôn ven biển

Kết quả nghiên cứu cho thấy tại 10 đảo thuộc quần đảo Trường Sa (Trường Sa lớn, Nam Yết, Sơn Ca, Song Tử Tây, Phan Vinh, Tốc Tan, Thuyền Chài, Đá Tây, Sinh Tồn và Đá Nam), các nhà khoa học đã xác định được 255 loài rong biển thuộc 4 ngành là khuẩn Lam (Cyanophyta), rong Đỏ (Rhodophyta), rong Nâu (Phaeophyta) và rong Lục (Chlorophyta). Trong đó, rong Đỏ chiếm ưu thế hơn cả: 136 loài chiếm 53,3%, tiếp theo là rong Lục: 69 loài chiếm 27,0%, khuẩn Lam và rong nâu có số lượng loài bằng nhau: 25 loài chiếm 9,8%.

       Rong biển ở quần đảo Trường Sa có sự phân bố rất đa dạng và không đồng đều. Theo đó, sự phân bố địa lý (phân bố rộng) của rong biển tại các đảo thuộc quần đảo Trường Sa hoàn toàn không giống nhau. Số lượng loài tại các đảo dao động từ 17 loài (đảo Phan Vinh) đến 127 loài (đảo Đá Tây) và trung bình 72,9 loài. Sự phân bố rộng của các loài rong biển ở đây phù hợp với quy luật phân bố của sinh vật thuỷ sinh. Hệ số tương đồng của các loài tại các đảo khác nhau dao động từ 0,102 (giữa Đá Nam và Tốc Tan) đến 0,677 (giữa Trường Sa và Nam Yết). Nguyên nhân chính của sự sai khác này là  do sự khác nhau về vị trí địa lý giữa các đảo, tác động của con người và thiên nhiên.

        Sự phân bố thẳng đứng (phân bố sâu) của rong biển tại quần đảo Trường Sa chỉ nằm trong giới hạn từ vùng triều trở xuống và tập trung chủ yếu ở vùng triều thấp. Một số loài có thể phân bố sâu đến 20m dưới 0m hải đồ hoặc sâu hơn nữa. Trong số 255 loài rong biển đã phát hiện được tại quần đảo Trường Sa, có tới 72% số loài phân bố ở vùng triều và 28% loài phân bố ở vùng dưới triều.

        Triển vọng khai thác 6 nhóm nguyên liệu

        Kết quả nghiên cứu cho thấy tại quần đảo Trường Sa có 62 loài rong có giá trị kinh tế, trong đó, một số loài có trữ lượng tự nhiên tức thời là rong Mơ (34 tấn), rong Câu (9 tấn), rong Guột (10 tấn), rong Quạt (5 tấn), rong Gai (9 tấn), rong Đông (13 tấn), rong Mào gà (15 tấn), rong Sụn (30 tấn) và rong Loa kèn (20 tấn). Căn cứ theo giá trị sử dụng của từng loài, các nhà khoa học đã phân loại rong biển tại quần đảo Trường Sa thành 6 nhóm làm nguyên liệu chế biến cụ thể như sau: Nhóm làm nguyên liệu chế biến keo carrageenan, keo Agar,  nhóm chế biến dược liệu dược liệu, thực phẩm, phân bón và rau xanh.

         Với nguồn lợi như trên, rong biển tại quần đảo Trường Sa trở thành một nguồn tài nguyên có ý nghĩa thực tiễn rất lớn trong đời sống. Nghiên cứu nguồn lợi rong biển quần đảo Trường Sa của các nhà khoa học thuộc Viện Tài nguyên và Môi trường Biển không chỉ có ý nghĩa về mặt nghiên cứu khoa học, góp phần bổ sung thêm tài liệu về nguồn lợi rong biển trong nước mà còn giúp các cơ quan quản lý tại quần đảo Trường Sa có thể định hướng khai thác nguồn tài nguyên quý giá này một cách hợp lý và có hiệu quả, thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của các vùng hải đảo./.
CHI CỤC BIỂN