Nhập từ khóa...Tìm kiếm
Biển và Hải đảo
Biển và Hải đảo
Quy hoạch không gian biển vì sự phát triển bền vững 
05/05/2014 
 

Trải dài trên 13 vĩ độ với đường bờ biển dài trên 3.200km và hơn 3000 hòn đảo lớn nhỏ, tiềm năng  tài nguyên biển của Việt Nam tuy không được coi vào loại giàu có của thế giới song có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển đất nước, đặc biệt trong xu thế hướng biển của các quốc gia trên thế giới. Vì vậy “sức chứa” của “không gian kinh tế biển” trước diễn biến gia tăng dân số, áp lực môi trường, cạn kiệt tài nguyên đang trở thành thách thức lớn, đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách phải thay đổi tư duy, sử dụng công cụ quy hoạch không gian biển (QHKGB) để phát  triển bền vững tài nguyên biển.

Tìm “chỗ đứng” pháp lý cho QHKGB

Hiện nay, khái niệm QHKGB vẫn chưa được sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật phục vụ quản lý biển, hải đảo ở Việt Nam. Tuy nhiên. Luật biển Việt Nam được ban hành năm 2012 và có hiệu lực từ 1/1/2013 đã có một chương về kinh tế biển. Chương này quy định về quy hoạch phát triển kinh tế biển bao gồm cả quy định về căn cứ lập quy hoạch và nội dung quy hoạch.

Tuy nhiên, các nội dung này cũng tương tự như nội dung của quy hoạch sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo quy định tại Nghị định số 25/2009/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo. Trong khi đó, Nghị định 25 chưa tiến hành phân cấp trong việc lập, phê duyệt quy hoạch sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển mà chỉ phân cấp trong tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo.

Theo đề xuất của các cơ quan quản lý Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế, hai loại quy hoạch KGB và sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển có nhiều điểm tương đồng. Tuy nhiên, điểm khác biệt lớn giữa 2 loại quy hoạch này là: QHKGB thể hiện rõ một tiến trình ra quyết định quản lý, còn các quy định hiện nay về quy hoạch sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo đang thực hiện theo Nghị định 25 hướng nhiều vào các bước lập quy hoạch và yêu cầu của sản phẩm phải đạt (môi trường, kinh tế). Chính vì vậy, việc rà soát xây dựng mới hoặc bổ sung, hoàn chỉnh những quy định pháp luật đối với toàn bộ quá trình QHKGB như căn cứ, nội dung, trình tự, thẩm định, phê duyệt đến việc tổ chức thực hiện, rà soát đánh giá việc điều chỉnh, bổ sung quy hoạch là việc làm cần thiết hiện nay.

Rõ ràng Việt Nam còn đang thiếu hành lang pháp lý cho QHKGB, hiện mới chỉ có cơ sở bước đầu cho việc lập, phê duyệt và tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo trong khi quản lý tổng hợp biển, hải đảo, quy hoạch không gian biển là công cụ quản lý và kiểm soát quan trọng được các nước trên thế giới áp dụng từ 20 năm qua.

Cần sự “đồng thuận”

Để tìm chỗ đứng pháp lý cho QKHGB không đơn giản, bởi lẽ đây là một khái niệm khá mới mẻ tại Việt Nam. Mặt khác, biển là tài nguyên chia sẻ, ở mỗi ngành đang khai thác và sử dụng tài nguyên biển đều đã có quy hoạch của ngành mình. Vậy nên việc đưa ra tính chất pháp lý  để thực hiện QHKGB nhằm quản lý tổng hợp tài nguyên biển và hải đảo Việt Nam sẽ động chạm tới lợi ích của không ít Bộ, ngành. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, phải hiểu rằng QHKGB không phải làm thay thế quy hoạch của các ngành khai thác, sử dụng biển. Các quy hoạch thủy sản, giao thông vận tải thủy, năng lượng hay bảo tồn biển… vẫn cần tiếp  tục xây dựng, phê duyệt hoặc thực hiện, thậm chí cả trong trường hợp khi quy hoạch không gian biển đã được đưa vào thực hiện. Bởi lẽ QHKGB sẽ được vận dụng trên nguyên tắc điều chỉnh những hoạt động khai thác quá mức hoặc tại thời điểm không phù hợp mà thôi như ý kiến của TS Nguyễn Lê Tuấn, viện Nghiên cứu quản lý biển và hải đảo Việt Nam: QHKGB cũng không thể “né tránh” những yêu cầu điều chỉnh hay thực hiện việc định hướng cho quy hoạch của từng ngành phải làm tăng khả năng tương thích, giảm xung đột (thực tế hay tiềm năng giữa các ngành), cân bằng lợi ích phát triển và nhiệm vụ bảo tồn, làm tăng hiệu lực và hiệu quả của hệ thống thể chế và góp phần giải quyết những tác động không có lợi do hoạt động khai thác của con người trên cùng một không gian biển gây ra.

Mặt khác, theo các chuyên gia nghiên cứu biển, để tránh việc các ngành lầm tưởng đây sẽ là một quy hoạch thay thế quy hoạch ngành, trong quá trình xây dựng văn bản pháp luật, cần thống nhất tên gọi của quy hoạch trong các văn bản quy phạm pháp luật. Bởi người ta dễ hình dung rằng quy hoạch mang tính tổng hợp  sẽ là “ghép nối” hay “phép cộng” đơn thuần từ những quy hoạch ngành đã có.

Cho tương lai bền vững…

Vùng bờ biển Việt Nam chiếm vị trí chiến lược trọng yếu, được xác định là vùng kinh tế động lực của quốc gia. Song chúng ta lại đang khai thác, sử dụng vùng bờ biển trong bối cảnh một quốc gia đang phát triển với những ưu tiên hàng đầu là tăng trưởng kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hoạt động khai thác tài nguyên biển trong bối cảnh này nảy sinh không ít mâu thuẫn và xung đột không gian giữa các ngành sử dụng bờ biển.

Mặt khác, với cơ chế quản lý đang vận hành, vùng bờ biển nói riêng và vùng biển nói chung đang thuộc sự quản lý của tới 15  Bộ, ngành. Nhưng việc quản lý này đã không thực sự hiệu quả và bộc lộ nhiều “lỗ hổng” pháp lý khi hàng năm khu vực đới bờ, khu vực biển Việt Nam vẫn gánh chịu nhiều tác động của thiên tai và nhân tai (sự cố môi trường). Các vấn đề trên gây tác động xấu không chỉ tại vùng bờ mà còn lan tỏa ra khơi xa, thậm chí mang tính “xuyên biên giới” đối với những vùng tiếp cận với chủ thể hành chính khác.

Chính vì vậy quản lý tổng hợp vùng bờ và quy hoach không gian biển dựa vào hệ sinh thái đang là những phương thức tiếp cận “tổng hợp” được ưu tiên áp dụng trên cơ sở những khuyến nghị từ quốc tế vì một vùng bờ biển quốc gia bền vững.

Cần nhấn mạnh thêm rằng, QHKGB cũng không phải đơn thuần là việc phân chia vùng biển. Thực tế, các vùng biển đã được phân chia theo các mục đích khác nhau từ rất lâu. Vì vậy, vấn đề cần giải quyết trong QHKGB là việc phân tích thông tin đa dạng để tiến hành phân vùng chức năng biển trên cơ sở quản lý liên vùng, liên ngành; kế thừa và tôn trọng hiện trạng việc phân vùng biển đã có song cũng cần có những điều chỉnh cần thiết  nhằm đảm bảo mục tiêu cuối cùng của QHKGB là thúc đẩy phát triển bền vững, cần bằng giữa phát triển và bảo vệ môi trường, khai thác, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả tài nguyên biển cho tương lai mai sau./.