Nhập từ khóa...Tìm kiếm
Môi trường
Môi trường
Môi trường làng nghề trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận: Thực trạng và giải pháp 
20/05/2014 
 
         Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 17 làng nghề và làng có nghề truyền thống hoạt động ổn định từ trước năm 2011 cho đến nay. Tính đến tháng 8/2013, tổng số lao động tại 17 làng nghề của tỉnh là 4.135 người với mức thu nhập bình quân khoảng 800.000-1.000.000 đồng/người/tháng.

Theo Thông tư số 46/2011/TT-BTNMT ngày 26/12/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về bảo vệ môi trườnglàng nghề, 17 làng nghề trong tỉnh thuộc 02 nhóm sau đây:

    - Nhóm A (Các cơ sở thuộc loại hình sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường thấp, được phép hoạt động trong khu vực dân cư): Có 07 làng nghề với 895 cơ sở sản xuất, bao gồm: Làng nghề dệt thổ cẩm: Mỹ Nghiệp, Chung Mỹ; làng nghề thủ công mỹ nghệ: Cầu Gãy, Tập Lá, Động Thông, Ma Nai; làng nghề sản xuất chổi Lâm Hòa.

    - Nhóm B (Các cơ sở thuộc loại hình sản xuất có một hoặc một số công đoạn sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao, phải xử lý ô nhiễm môi trường): Có 10 làng nghề với 454 cơ sở sản xuất, bao gồm: Làng nghề gốm Bàu Trúc; làng nghề thủ công mỹ nghệ La Vang; làng nghề mộc mỹ nghệ Tân Sơn; làng nghề chế biến cá cơm hấp Lạc Sơn 3; làng nghề chế biến nước mắm: Lạc Sơn 2, Lạc Tân 1; làng nghề chế biến hải sản: Mỹ Tân,  Đông Hải; làng có nghề dệt chiếu cói An Thạnh; làng nghề sản xuất đũa Song Mỹ.

     Sự phát triển sản xuất nghề đã góp phần quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người dân khu vực nông thôn. Tuy nhiên, bên cạnh các mặt tích cực của làng nghề thì hoạt động sản xuất của làng nghề cũng đang gây áp lực lớn đến môi trường, nhất là về nước thải.

     Thông qua việc lập Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Ninh Thuận năm 2013, đã xác định mức độ phát thải và ô nhiễm môi trường tại 17 làng nghề trong tỉnh như sau:

     - Số làng nghề có chất thải rắn sản xuất: 17/17 làng nghề đều có chất thải rắn sản xuấtvới lượng thải trung bình khoảng 4 - 1.730 kg chất thải rắn/làng nghề/ngày. Thành phần chất thải chủ yếu là: tro, dăm bào, mùn cưa, chỉ, vải thừa, cói, đót thải,…Toàn bộ chất thải rắn này được thu gom và xử lý với rác thải sinh hoạt hoặc tự xử lý trong phạm vi cơ sở.

     - Số làng nghề có phát sinh khói thải: 04/17 làng nghề có phát sinh khói thải (làng nghề gốm Bàu Trúc, làng nghề chế biến hải sản thôn Mỹ Tân, làng nghề chế biến cá hấp thôn Lạc Sơn 3, làng nghề dệt chiếu cói An Thạnh). Nguồn phát sinh khói thải chủ yếu từ hoạt động nung gốm, hấp cá, nhuộm cói. Kết quả phân tích các thông số ô nhiễm không khí (bụi lơ lửng, SO2, CO) cho thấy chỉ có làng nghề gốm Bàu Trúc bị ô nhiễm cục bộ tại một số khu vực do bụi lơ lửng và SO2; các thông số ô nhiễm trên đều đạt quy chuẩn cho phép tại 03 làng nghề còn lại

    - Số làng nghề có phát sinh nước thải sản xuất: 07/17 làng nghề có phát sinh nước thải sản xuất (làng nghề chế biến nước mắm: Lạc Sơn 2, Lạc Tân 1; làng nghề chế biến cá hấp: Lạc Sơn 3, làng nghề chế biến hải sản: Mỹ Tân,  Đông Hải; làng nghề dệt chiếu cói An Thạnh, làng nghề sản xuất đũa Song Mỹ). Nguồn phát sinh nước thải tại các làng nghề này chủ yếu từ các hoạt động: rửa cá, dụng cụ và vệ sinh mặt bằng nhà xưởng; chà nhám đũa và nhuộm cói, với lượng thải trung bình khoảng 4-128m3/làng nghề/ngày (riêng lượng nước thải từ hoạt động nhuộm cói của làng nghề dệt chiếu cói An Thạnh rất thấp, khoảng 20 lít/hộ/tháng). Thành phần các chất ô nhiễm trong nước thải tại 07 làng nghề này chủ yếu là chất rắn lơ lửng, chất hữu cơ dễ phân hủy,... Nước thải tại các làng nghề này đều được thu gom, xử lý bằng các bể tự hoại; riêng nước thải của làng nghề chế biến hải sản Đông Hải được thu gom, xử lý tại hệ thống xử lý nước thải tập trung của cảng cá Đông Hải (do nguồn nguyên liệu hải sản được sơ chế trong khu vực cảng cá Đông Hải). Kết quả phân tích các thông số ô nhiễm (chất rắn lơ lửng, COD, BOD5, tổng Nitơ, dầu mỡ động thực vật và tổng coliforms) sau xử lý bằng bể tự hoại tại 06 làng nghề còn lại đều vượt quy chuẩn cho phép.

     Để khắc phục và hạn chế tới mức thấp nhất tình trạng ô nhiễm môi trường cũng như những tác hại từ ô nhiễm môi trường tại các làng nghề, góp phần bảo đảm sức khỏe cho cộng đồng, cần có những giải pháp trước mắt và lâu dài sau đây:

      - Giải pháp trước mắt: Tăng cường công tác tuyên truyền, hướng dẫn các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường làng nghề nói riêng cho các cơ sở sản xuất trong làng nghề. Bên cạnh đó, Sở Khoa học và Công nghệ cần đẩy nhanh việc hoàn thành và nghiệm thu đề tài “Nghiên cứu công nghệ xử lý nước thải chế biến cá cơm khô hấp tại các làng nghề chế biến cá cơm khô hấp của tỉnh Ninh Thuận” để đưa vào ứng dụng xử lý ô nhiễm tại các làng nghề chế biến hải sản trong tỉnh.

      - Giải pháp lâu dài: Lập và triển khai các Quy hoạch phát triển làng nghề tỉnh Ninh Thuận; xây dựng ban hành các cơ chế, chính sách về tài chính, mặt bằng, thuế,... để hỗ trợ cho phát triển tiểu thủ công nghiệp và làng nghề; phân bổ kinh phí để thực hiện các hạng mục bảo vệ môi trường (hệ thống xử lý nước thải tập trung) tại các làng nghề theo Đề án phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và làng nghề tỉnh Ninh Thuận đến năm 2020 và Kế hoạch hỗ trợ phát triển làng nghề, xây dựng thương hiệu sản phẩm đặc thù tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2011-2015 đã được phê duyệt; đẩy mạnh việc nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao các kết quả nghiên cứu khoa học để cải tiến quy trình, công nghệ sản xuất; giảm tiêu hao nguyên, nhiên liệu; tăng giá trị sản phẩm; giảm chất thải và xử lý chất thải phù hợp điều kiện tài chính và công nghệ sản xuất tại các làng nghề .



 


Chi cục Môi trường 
Tin đã đưa
(23/07)
(10/06)
(10/06)
(05/06)
(30/05)
(20/05)
(19/03)
(14/11)
(18/10)
(17/10)