Nhập từ khóa...Tìm kiếm
Đất đai
Đất đai
Ai được bồi thường? Bồi thường như thế nào? 
28/12/2009 
 

TT - Dự thảo qui định về giải tỏa, tái định cư vừa được trình UBND TP.HCM để ban hành trong thời gian tới. Dự thảo này nhằm triển khai nghị định 197 ngày 3-12-2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Nội dung dự thảo có nhiều qui định mới, phù hợp với Luật đất đai năm 2003.

Ai được bồi thường?

Theo dự thảo, qui định này áp dụng khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng (xây dựng trụ sở, công trình sự nghiệp được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất - SDĐ, công trình công cộng không nhằm mục đích kinh doanh, SDĐ để chỉnh trang, phát triển khu đô thị và khu dân cư nông thôn, để phát triển rừng, đất cho các cơ sở tôn giáo, đất nghĩa trang…) và mục đích phát triển kinh tế (xây dựng khu công nghiệp, đất thực hiện các dự án nhóm A, dự án ODA có nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức, dự án có vốn đầu tư nước ngoài…).

Theo đó, tổ chức, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, hộ gia đình, cá nhân trong nước, người VN định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài đang SDĐ bị Nhà nước thu hồi đất và có đủ điều kiện được bồi thường đất, tài sản thì được bồi thường theo qui định. Nếu sau khi bị thu hồi đất mà không có chỗ ở thì được bố trí tái định cư.

Riêng các công trình công cộng thực hiện theo phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, việc bồi thường, hỗ trợ được thực hiện theo nguyên tắc bàn bạc công khai dân chủ giữa chính quyền địa phương với cộng đồng dân cư nơi thực hiện dự án.

Đủ điều kiện:  bồi thường; không đủ điều kiện: hỗ trợ

Người bị Nhà nước thu hồi đất có đủ điều kiện (theo qui định dưới đây) thì được bồi thường; nếu không đủ điều kiện bồi thường thì được xem xét để hỗ trợ. Người bị thu hồi đất đang sử dụng vào mục đích nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng đó. Nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền SDĐ tại thời điểm có quyết định thu hồi; trường hợp bồi thường bằng việc giao đất mới hoặc bằng nhà, nếu có chênh lệch về giá trị thì phần chênh lệch đó được thanh toán bằng tiền.

Trường hợp được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mà người SDĐ chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai thì phải trừ đi khoản tiền phải thực hiện nghĩa vụ tài chính vào số tiền bồi thường, hỗ trợ để hoàn trả vào ngân sách nhà nước.

Việc hoàn trả khoản này vào ngân sách chỉ áp dụng đối với các dự án đầu tư bằng nguồn vốn không thuộc ngân sách TP và do hội đồng bồi thường của dự án tổ chức xác định và nộp vào ngân sách. Diện tích được bồi thường là diện tích được xác định trên thực địa, thực tế đo đạc diện tích thu hồi của từng người SDĐ.

Bồi thường nhà, đất hoặc tiền

Có hai phương thức bồi thường: bồi thường bằng căn hộ khác (không thấp hơn 40m2/hộ) hoặc đất ở (không thấp hơn 80m2/nền) và bồi thường bằng tiền. Nếu diện tích sau giải tỏa còn lại nhỏ hơn 40m2 hoặc có hình dáng không phù hợp để xây nhà ở thì UBND quận huyện, phường xã căn cứ qui hoạch chi tiết lập phương án sử dụng để phục vụ vào mục đích công cộng; nếu có nguyện vọng ở lại, người bị thu hồi chỉ được bồi thường theo chính sách thu hồi một phần và được phép xây nhà ở bán kiên cố. Tuy nhiên, Nhà nước khuyến khích các hộ còn diện tích quá nhỏ chuyển quyền SDĐ còn lại cho hộ tiếp giáp.

Điều kiện gì để được bồi thường về đất?

Người bị Nhà nước thu hồi đất sẽ được bồi thường nếu có một trong các điều kiện sau:

- Có giấy chứng nhận quyền SDĐ theo qui định của pháp luật về đất đai.

- Có quyết định giao đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và phù hợp với qui định của pháp luật đất đai.

- Hộ gia đình, cá nhân đang SDĐ ổn định, được UBND phường, xã, thị trấn xác nhận không tranh chấp và có một trong các loại giấy tờ như: giấy tờ về quyền SDĐ trước ngày 15-10-1993; giấy chứng nhận quyền SDĐ tạm thời hoặc có tên trong sổ địa chính, sổ đăng ký ruộng đất; giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng, cho quyền SDĐ hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất…; giấy tờ chuyển nhượng quyền SDĐ, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15-10-1993; giấy tờ về thanh lý, hóa giá nhà...; giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người SDĐ…

Bồi thường theo giá nào?

Giá đất để tính bồi thường là giá đất do UBND TP công bố vào ngày 1-1 hằng năm có cùng mục đích sử dụng với đất bị thu hồi tại thời điểm có quyết định thu hồi đất; không bồi thường theo giá đất sẽ được chuyển mục đích sử dụng đất sau khi thu hồi.

Trường hợp bồi thường chậm do lỗi ở các cơ quan chức năng có liên quan: nếu giá bồi thường cao hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi thì tính theo giá đất tại thời điểm trả tiền bồi thường; nếu giá đất tại thời điểm trả tiền bồi thường thấp hơn giá tại thời điểm ra quyết định thu hồi thì tính theo giá tại thời điểm có quyết định thu hồi.

Trường hợp bồi thường chậm do người bị thu hồi đất gây ra: nếu giá đất tại thời điểm bồi thường thấp hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi thì tính giá đất tại thời điểm bồi thường, nếu giá đất tại thời điểm bồi thường cao hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi thì tính theo giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi.

ĐOAN TRANG lược ghi