Tài nguyên thiên nhiên 
Tài nguyên thiên nhiên 

1. Tài nguyên đất

Theo kết quả dự án điều tra bổ sung, chỉnh lý xây dựng bản đồ đất tỉnh Ninh Thuận, tỷ lệ 1/50.000 do Phân viện QH & TKNN miền Nam - Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp thực hiện năm 2004. Toàn huyện có 7 nhóm đất/12 đơn vị phân loại đất như sau:

Biểu 1: Tổng hợp các loại đất trên địa bàn huyện Thuận Nam

TT

Tên đất

Ký hiệu

Diện tích (ha)

Cơ cấu (%)

I

NHÓM BÃI CÁT, CỒN CÁT VÀ ĐẤT CÁT BIỂN

C

3.891,01

6,89

1

Đất cát biển

Cc

3.728,03

6,60

2

Cồn cát đỏ

117,18

0,21

3

Cồn cát vàng

Cv

45,79

0,08

II

NHÓM ĐẤT  MẶN

M

746,19

1,32

4

Đất mặn nhiều

Mn

566,61

1,00

5

Đất mặn ít

Mi

179,57

0,32

III

NHÓM ĐẤT PHÙ SA

P

1.184,00

2,10

6

Đất phù sa ngòi suối

Py

550,25

0,97

7

Đất phù sa gley

Pg

534,75

0,95

8

Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng

Pf

99,00

0,18

IV

NHÓM ĐẤT XÁM LẤYY

Xg

1.199,59

2,12

9

Đất xám gley

Xg

1.199,59

2,12

V

NHÓM ĐẤT XÁM NÂU VÙNG BÁN KHÔ HẠN

Xk

18.627,06

33,00

10

Đất xám nâu vàng bán khô hạn

Xk

18.627,06

33,00

VI

NHÓM ĐẤT ĐỎ VÀNG

F

20.667,69

36,61

11

Đất vàng đỏ trên đá macma axit

Fa

20.667,69

36,61

VII

NHÓM ĐẤT XÓI MÒN TRƠ SỎI ĐÁ

E

7.829,53

13,87

12

Đất xói mòn trơ sỏi đá

E

7.829,53

13,87

 

Sông suối, mặt nước

 

2.308,04

4,09

 

TỔNG DIỆN TÍCH TỰ NHIÊN

 

56.453,11

100,00


* Nguồn: Phân viện Quy hoạch và TKNN Miền Nam, năm 2004        

1. Nhóm bãi cát, cồn cát và đất cát biển: Có quy mô diện tích là 3.891,01 ha, chiếm 3,19% diện tích tự nhiên, gồm các đất được hình thành từ trầm tích biển và có thành phần cơ giới thô hơn hoặc bằng cát pha thịt trong suốt độ sâu 0-100 cm. Phân bố tập trung ở xã Phước Dinh. Nhóm đất cát được phân chia ra 3 đơn vị phân loại, bao gồm: đất cát biển 3.728,03 ha; đất cát đỏ 117,18 ha; đất cát vàng  45,79 ha.

2. Nhóm đất mặn: Diện tích là 746,19 ha, chiếm 1,32 % diện tích tự nhiên; gồm các đất được hình thành từ trầm tích trẻ, tuổi Holocene, có nguồn gốc biển, sông-biển hoặc biển-đầm lầy và ít nhất ở một phụ tầng trong vòng 100cm có thành phần cơ giới mịn hơn cát mịn pha thịt. Nhóm đất này phân bố ở các địa hình thấp trũng, vàn ven biển và các cửa sông gần biển tập trung củ yếu ở các xã: Phước Dinh, Phước Diêm, Cà Ná. Đất mặn được chia ra 2 đơn vị phân loại đất, bao gồm: đất mặn nhiều 566,61 ha; đất mặn ít 179,57 ha.

3. Nhóm đất phù sa (P): Diện tích 1.184 ha, chiếm 2,1 % diện tích tự nhiên, gồm các đất hình thành trên các trầm tích trẻ, tuổi Holocene, có nguồn gốc sông hoặc sông - biển và không bị mặn trong vòng 100 cm. Phân bố ven sông Lu, thuộc địa bàn các xã Phước Hà, Nhị Hà, Phước Ninh, Phước Nam. Nhóm đất phù sa ở Thuận Nam được chia ra 3 đơn vị phân loại, bao gồm: đất phù sa ngòi suối 550,25 ha, đất phù sa lấy 534,75 ha; đất phù sa có tầng loang lổ đỏ-vàng 99 ha.

4. Nhóm đất xám glây (Xg): Đất xám glây có diện tích là 1.199,59 ha; chiếm 2,12 % diện tích tự nhiên phân bố tập trung ở các xã Phước Nam, Phước Ninh, Nhị Hà, Phước Hà.  Hiện nay, hầu như toàn bộ diện tích đất này ở Thuận Nam là đất ruộng lúa. Đây là một loại đất có mức thích hợp cao đối với chuyên canh lúa nước, hoặc luân canh lúa nước với các cây trồng cạn hàng năm.

5. Nhóm đất đỏ và xám nâu vùng bán khô hạn (Xk): Nhóm đất đỏ và xám nâu vùng bán khô hạn bao phủ hầu như toàn bộ phần bậc thềm cao và phẳng trước núi trong vùng nội địa của huyện Thuận Nam và một phần nhỏ vùng đồi núi thấp. Diện tích 18.627,06 ha; chiếm đến 33 % tổng diện tích tự nhiên toàn huyện. Gồm một đơn vị phân loại là đất xám nâu vùng bán khô hạn. Hiện tại loại đất này đang được sử dụng là đồng cỏ chăn thả, ruộng muối, cây hàng năm và một số diện tích đang được khai thác sử dụng đất xây dựng khu công nghiệp .

6. Nhóm đất đỏ vàng (Fa): Nhóm đất đỏ vàng trên địa bàn huyện là đất đỏ vàng trên đá mắc ma a xít, chiếm giữ phần lớn vùng núi cao của huyện Thuận Nam. Diện tích 20.667,69 ha; chiếm 36,61 % tổng diện tích tự nhiên toàn huyện. Hiện nay, hầu hết diện tích đất vàng đỏ trên đá mác ma axít là đất rừng tái sinh, rừng trồng, hoặc đất cây lùm bụi xen cỏ dại, rất ít diện tích là đất nương rẫy quảng canh. Nhìn chung, trong điều kiện có rừng cây che phủ, đất Fa có hàm lượng dinh dưỡng khá cao; tuy nhiên hầu hết là đất tầng mỏng, lại phân bố trên những khối núi cao, dốc mạnh; nên ít thích hợp cho khai thác sử dụng nông nghiệp; do đó, đề nghị hạn chế khai thác nương rẫy quảng canh trên loại đất này, đồng thời có kế hoạch khoanh vùng trồng và bảo vệ rừng để bảo vệ đất.

7. Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá: Đất xói mòn trơ sỏi đá có diện tích 7.829,53 ha, chiếm 13,87 % diện tích tự nhiên. Phân bố tập trung ở các xã: Phước Dinh, Phước Diêm, Phước Minh, Cà Ná. Toàn bộ đất xói mòn trơ sỏi đá có tầng mỏng và hầu hết ở địa hình núi cao dốc, vì vậy, ít có ý nghĩa cho sử dụng nông nghiệp.

2. Tài nguyên nước

a) Nước mặt: Nước mặt trên địa bàn huyện gồm có hệ thống sông suối, công trình thuỷ lợi.

Sống suối: Hệ thống sông suối của huyện bắt nguồn từ các dãy núi phía Tây huyện chảy về hướng Đông đổ vào sông Cái - Phan Rang. Bao gồm sông Lu, sông Biêu, sông Trăng, suối Là Ha, suối La La, suối Nha Min, suối Lớn.... Trong đó sông Lu có chiều dài là 45 km, diện tích lưu vực là 380 km2, lưu lượng dòng chảy trung bình hàng năm là 2,19 m3/s, là sông chính chi phối phần lớn nguồn nước mặt ở Thuận Nam.

Công trình thuỷ lợi: Hệ thống thuỷ lợi Tân Giang gồm hồ Tân Giang và các đập Cà Tiêu, Ma Rên, Chà Vin, đập Đá với diện tích lưu vực là 149 km2, năng lực thiết kế tưới cho 3.000 ha. Bên cạnh hệ thống thuỷ lợi Tân Giang còn có hồ suối Lớn (Phước Ninh), hồ Quán Thẻ (Phước Minh) hồ CK7 (Phước Hà), đập suối Ngang (Phước Dinh). Hiện nay trên địa bàn huyện đang đầu tư xây dựng hồ sông Biêu với diện tích lưu vực 67 km2, thiết kế tưới 940 ha cùng với việc sẽ đầu tư thêm một số công trình thuỷ lợi như hồ Tân Giang 2, hồ núi Một, hồ Trà Van... sẽ góp phần đáp ứng nhu cầu nước tưới cho sản xuất và sinh hoạt của người dân trong huyện.

Mặc dù hệ thống sông suối trên địa bàn tương đối dày nhưng, nhìn chung tài nguyên nước mặt ở Thuận Nam rất hạn chế do lượng mưa ít nhưng lượng bốc hơi lớn, nhiều sông suối trên địa bàn kiệt nước vào mùa khô. Vì vậy, công tác thuỷ lợi đóng vai trò quan trọng đối với phát triển nông nghiệp và các ngành kinh tế - xã hội khác trên địa bàn.

b) Nước ngầm: Theo kết quả điều tra, đánh giá của ngành địa chất thuỷ văn: Nước ngầm ở huyện Thuận Nam có một tầng chứa nước ngầm ở độ sâu khoảng 14 -20m, đó là tầng chứa nước lỗ hổng trầm tích (Pleistocen – Holocen) có thể khai thác phục vụ cho sinh hoạt với trữ lượng hạn chế. Kết quả thăm dò tìm kiếm nguồn nước ngầm tại một số khu vực trong huyện cho thấy:

- Độ sâu từ mặt đất đến tầng chứa nước từ 14 đến 20 m.

- Độ dày của tầng chứa nước mỏng chỉ từ 3 - 5 m.

- Mực nước tĩnh ổn định ở mức 0,5 m đến 3 m đối với vùng đồng bằng và lớn hơn 3,5 m đối với vùng trung du và miền núi.

Chất lượng nước ngầm biến đổi khá phức tạp theo mùa, nước mặn và nước ngọt phân bố xen kẽ nhau trên một địa bàn, đặc biệt khu vực các xã Phước Minh, Phước Dinh, Phước Diêm, Cà Ná nước ngầm thường có độ mặn do sự xâm nhập của nước biển.

3. Tài nguyên rừng

Theo số liệu rà soát quy hoạch 3 loại rừng của Chi cục Lâm nghiệp Ninh Thuận 2007 và số liệu thống kê hiện trạng sử dụng đất năm 2010 của Phòng Tài nguyên - Môi trường Thuận Nam, hiện trạng diện tích rừng trên địa bàn huyện Thuận Nam đến năm 2010 như sau:

Tổng diện tích đất lâm nghiệp 27.635,48 ha, chiếm 48,95% tổng diện tích tự nhiên, theo phân cấp 3 loại rừng thị diện tích rừng sản xuất là 4.549,85 ha, chiếm 8,06% diện tích tự nhiên và 16,45% diện tích đất lâm nghiệp; diện tích rừng phòng hộ là 23.085,63 ha, chiếm 40,89% diện tích tự nhiên và 83,54 % diện tích đất lâm nghiệp. Trong đó đất có rừng là 16.152,48 ha với tổng trữ lượng ước tính khoảng 1.038.051 m3 và 690.731 cây, trong đó chủ yếu là rừng non, rừng nghèo, rừng lùn thuộc rừng phòng hộ đầu nguồn và ven biển. Cấu thành chủ yếu là rừng thường xanh xen rừng nửa rụng lá và rừng lùn vùng bán khô hạn, rừng hỗn giao, tỷ lệ che phủ thấp, dễ bị phá vỡ kết cấu nếu không có biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt.

Biểu 2: Hiện trạng rừng huyện Thuận Nam

TT

Loại đất loại rừng

Diện tích (ha)

Cơ cấu (%)

 

 Tổng diện tích ĐLN

27.635,48

100

1

Rừng tự nhiên

14.832,40

53,67

-

Rừng gỗ LRTX

4.401,40

15,93

-

Rừng gỗ LRRL

5.759,00

20,84

-

Rừng hỗn giao

618,00

2,24

-

Rừng lá kim

61,00

0,22

-

Rừng lùn trên núi đá

3.993,00

14,45

2.

Rừng trồng

1.320,08

4,78

3.

Đất chưa có rừng

11.483,00

41,55

* Nguồn: Chi cục lâm nghiệp Ninh Thuận 2008, Phòng TNMT Thuận Nam 2010.

4. Tài nguyên Biển

Thuận Nam có bờ biển dài trên 43 km, với vùng lãnh hải rộng trên 7.200 km2. Do nằm ở vùng nước trồi và là nơi hội tụ của hai dòng hải lưu nóng và lạnh từ phía Bắc xuống và từ phía Nam lên kéo theo nhiều loài cá và hải đặc sản di chuyển theo hai dòng hải lưu này cộng lại với nguồn thức ăn phóng phú tại đây nên đã tạo cho Thuận Nam - Ninh Thuận nguồn lợi hải sản phong phú, có nhiều bãi cá đáy, cá nổi ổn định.  Theo kết quả thống kê về sản lượng đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản đến nay cho thấy ở từ độ sâu 200m nước trở vào bờ có khoảng 100 loài hải sản kinh tế thuộc 4 nhóm động vật chủ yếu là giáp xác, nhuyễn thể, da gai, cá; ngoài ra trong số thực vật biển có 10 loài thuộc nhóm rau câu, rong mơ, rong đỏ. Với thềm biển tương đối sâu, đáy biển có nhiều cát và san hô, nước biển có độ mặn cao và ổn định, thuận lợi cho sản xuất muối đạt năng suất cao.

Có thể thấy rằng, khai thác hải sản, nuôi trồng thuỷ sản và sản xuất muối công nghiệp là một trong những thế mạnh của tỉnh Ninh Thuận  nói chung và Thuận Nam nói riêng, hàng năm ngành thuỷ sản của huyện đã đóng góp trên 55% giá trị sản xuất thuỷ sản của tỉnh. Trong tương lai công nghiệp chế biến hải sản, chế biến các sản phẩm sau muối là một trong những ngành mũi nhọn. Vì vậy những năm qua tỉnh đã đầu tư xây dựng cảng cá, bến cá; các cơ sở đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, xây dựng các nhà máy chế biến thuỷ hải sản, các cơ sở hậu cần cho phát triển nghề cá. Hiện tại trên địa bàn huyện Thuận Nam đang đầu tư mở rộng cảng Cà Ná với công suất bốc dỡ 15 triệu tấn/năm và mở rộng đồng muối công nghiệp Quán Thẻ. Với những lợi thế về tài nguyên biển nói trên là cơ sở để Thuận Nam phát triển trở thành khu kinh tế biển của tỉnh và cả nước.

5. Tài nguyên khoáng sản         

Theo báo cáo thuyết minh bản đồ địa chất khoáng sản tỉnh Ninh Thuận, tổng hợp lại cho thấy tài nguyên khoáng sản ở Thuận Nam chủ yếu là khoáng sản vật liệu xây dựng, như:

- Đá xây dựng: Trữ lượng 368,8 triệu m3, diện tích 10.420 ha, phân bố ở Lạc Tiến, núi Tà Lan - xã Phước Minh, Đá Găng - xã Cà Ná, Đồi Ja Ty; Mong Liêm;  núi Một - Phước Nam, núi Vung - Phước Hà. Đá có nguồn gốc phún trào granitpofia thành phần trung tính và a xít. Nhìn chung đá cứng chắc, thích hợp làm cốt liệu xây dựng đường, bê tông và nhu cầu khác.

- Đá ốp lát: Nguồn đá granit có khả năng khai thác chế biến đá ốp lát trên địa bàn huyện là khá lớn với trữ lượng 9,5 triệu m3, diện tích 38,34 ha, phân bố ở Bàu Ngứ; núi Chàng Bang – xã Phước Nam và Từ Thiện – xã Phước Dinh. Kết quả thăm dò của Sở Khoa học Công nghệ Môi trường tỉnh kết hợp với trường Đại học mỏ địa chất cho thấy đá có chất lượng tốt, độ nguyên khối lớn, ít nứt nẻ, màu sắc đẹp, độ trang trí cao.

- Đất sét: Theo dự báo tổng trữ lượng sét trên địa bàn huyện có khoảng gần 7 triệu m3, diện tích 4.080 ha. Hiện nay, trên địa bàn huyện đã thực hiện khai thác tại 2 mỏ ở khu vực thôn Hiếu Thiện - xã Phước Ninh và xã Phước Nam với trữ lượng dự báo 5 triệu m2, diện tích 305 ha, sét khai thác chủ yếu phục vụ cho nhà máy gạch tuy nen ở xã Phước Ninh công suất 15 triệu viên/năm.

- Đá chẻ: Nguồn tài nguyên khoáng sản để sản xuất đá chẻ xây dựng trên địa bàn huyện khá lớn dự báo có khoảng 7,2 triệu m3, diện tích 730 ha phân bố ở các xã Phước Minh (Núi Gió), Phước Nam (núi Chà Bang, Giếng Bụng, Đá Bạc; Bàu Ngứ), Phước Minh (Quán Thẻ). Đá chẻ trên địa bàn chủ yếu là macma granitoit thích hợp cho việc làm nền móng công trình thuỷ lợi, giao thông, nhà ở... hoạt động khai thác, chế biến chủ yếu là thủ công.

- Cát xây dựng: Cát xây dựng trên địa bàn huyện có trữ lượng không lớn khoảng 0,19 triệu m3, diện tích 180 ha, phân bố chủ yếu dọc sông Lu trên địa bàn xã xã Phước Nam và Nhị Hà.

- Vật liệu san lập: Nguồn nguyên liệu khai thác làm vật liệu san lấp phân bố khá phổ biến dưới dạng các lớp phủ bở rời xung quanh các chân núi, các đồi cát ven biển. Theo dự báo tổng trữ lượng ước đạt 16,84 triệu m3, điện tích 4.200 ha, địa bàn phân bố chủ yếu là khu vực núi Chà Bang thuộc xã Phước Nam.

Ngoài ra có khoáng sản phi kim loại có thạch anh tinh thể ở núi Chà Bang, do chưa có thăm dò cụ thể nên chưa dự báo được trữ lượng.

6. Tài nguyên nhân văn - du lịch

Trên địa bàn huyện có nhiều dân tộc sinh sống với nền văn hoá có những nét khác nhau, đặc biệt là văn hoá chăm đã tạo nên tính đa dạng và đặc sắc. Việc khai thác, tôn tạo, giữ gìn những giá trị văn hoá và cảnh quan hiện có là cơ sở để phát triển ngành du lịch, thu hút khách tới tham quan, nghỉ dưỡng, tìm hiểu về sinh hoạt, tập quán, lễ nghi, nghệ thuật của các dân tộc.

Bở biển và một số cảnh quan của huyện có những thuận lợi để phát triển du lịch đặc biệt là khu vực Cà Ná, Mũi Dinh. Bên cạnh đó với chủ trương đầu tư tuyến đường ven biển kéo dài đến cảng Cà Ná sẽ là điều kiện thuận lợi để gắn kết các điểm du lịch, từ biển Cà Ná là điểm trung tâm có thể hình thành quần thể du lịch và các tour du lịch gắn với khu du lịch Ba Bể, cồn cát đỏ Nam Cương, hồ Tân Giang, suối nước nóng Nhị Hà.