Điều kiện xã hội 
Điều kiện xã hội 

1. Y tế và chăm sóc sức khoẻ nhân dân

a) Về cơ sở vật chất

- Đối với y tế tuyến huyện: Hiện trên địa bàn huyện có 1 phòng khám đa khoa khu vực tại xã Cà Ná gồm có 20 giường bệnh (đã xuồng cấp đang chuẩn bị đầu tư xây dựng lại). Riêng trung tâm y tế huyện đã được quy hoạch, đang thực hiện các thủ tục để chuẩn bị đầu tư, hiện nay trung tâm y tế huyện đang sử dụng hạ tầng của trung tâm y tế huyện Ninh Phước để hoạt động.

- Đối với y tế tuyến xã: Hiện tại toàn huyện có 6/8 xã có trạm y tế xã, 2 xã mới chia tách là Phước Ninh, Cà Ná chưa có trạm y tế, tổng số giường bệnh là 30 giường. Hiện nay có 1 trạm y tế đã đạt chuẩn (trạm y tế xã Nhị Hà), các trạm y tế còn lại cơ sở vật chất xuống cấp nghiêm trọng cần đầu tư sửa chữa nâng cấp để đạt chuẩn nhằm đáp ứng cho nhu cầu khám, chữa bệnh ban đầu cho nhân dân.

b) Về nhân lực

- Đối với tuyến huyện: Bộ phận khám chữa bệnh có tổng số cán bộ 36 người kể cả Phòng khám đa khoa khu vực Cà Ná, trong đó gồm 6 bác sĩ (01 người là bác sĩ chuyên khoa I), 7 y sĩ, 3 dược sĩ trung học, 7 điều dưỡng, 1 xét nghiệm trung học các chuyên ngành khác có 9 người (2 đại học). Bộ phận quản lý nhà nước (phòng y tế huyện) có 3 người trong đó có 1 bác sĩ, 1 đại học công nghệ thực phẩm và 1 điều dưỡng trung học.

- Đối với tuyến xã: Gồm có bác sĩ: 3 người/03 trạm y tế (Phước Hà, Nhị Hà, Phước Nam), 14 y sĩ, 8 dược sĩ (2 sơ cấp), 12 điều dưỡng 8 nữ hộ sinh, 1 lương y.

Nhìn chung đội ngũ cán bộ y tế dần được chuẩn hoá để đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng cao; hiện tại có 1 bác sĩ đang theo học bác sĩ chuyên khoa cấp 1 và 2 y sĩ đang theo học chuyên tu bác sĩ. Tuy nhiên, tỷ lệ bác sĩ trên 1.000 dân đạt thấp (0,18 bác sĩ/1.000 dân).

c) Hoạt động y tế trên địa bàn

Thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân, các chương trình y tế quốc gia, y tế dự phòng; công tác phòng chống các loại dịch bệnh hiệu quả. Quan tâm và tổ chức khám, cấp thuốc miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi theo đúng quy định hiện hành. Tổ chức tốt chiến dịch chăm sóc sức khoẻ sinh sản các vùng khó khăn, thực hiện tốt đề án kiểm soát dân số vùng biển, ven biển giai đoạn 2009- 2020. Kết quả hoạt đông y tế đạt được như sau:

- Khám chữa bệnh cho 12.987 lượt người, trong đó điều trị nội trú 789 lượt người.

- Tiêm chủng 7 bệnh cho trẻ em đạt 96%,

- Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm xuống còn 20,04%.

- Tổ chức thực hiện các biện pháp kế hoạch hoá gia đình cho 5.425 lượt người.

- Chú trọng công tác quản lý chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm, đã kiểm tra 123 cơ sở sản xuất kinh doanh hoạt động, phát hiện và xử lý 63 cơ sở không đạt yêu cầu.

- Duy trì tốt công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực y tế, nhất là đối với hoạt động hành nghề y dược tư nhân, kiểm tra và xử lý 9/10 cơ sở vi phạm về các điều kiện hoạt động ngành nghề y dược tư nhân.

- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm 1,38%.

2. Giáo dục và đào tạo

- Về lĩnh vực giáo dục: Trong những năm qua, ngành giáo dục được quan tâm đầu tư phát triển cả về cơ sở vật chất và nâng cao chất lượng giáo dục. Từng bước đẩy mạnh thực hiện xã hội hoá giáo dục, đặc biệt là lĩnh vực giáo dục mầm non. Kết quả xoá mù chữ được duy trì vững chắc; 100% xã duy trì chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học, 100% xã đạt chuẩn về phổ cập giáo trung học cơ sở. Tỷ lệ huy động học sinh ra lớp năm học 2010-2011: huy động  trẻ trong độ tuổi ra mẫu giáo là 1.106/1.564 , đạt tỷ lệ 71%, số học sinh huy động vào lớp 1 có 1.151 em/1.176 em trong độ tuổi đạt tỷ lệ 97,9%; lớp 6 có 1.024/1.031 đạt tỷ lệ 99,3%.  

Năm học 2010 - 2011, toàn huyện có 26 trường học các cấp, trong đó mầm non có 6 trường, tiểu học có 14 trường, trung học cơ sở có 6 trường và trung học phổ thông có 2 trường. Tổng số có 312 phòng học với 403 lớp học và tổng số học sinh các cấp là 11.498 học sinh. Tổng số giáo viên có các cấp 543 người.

Công tác xã hội hoá giáo dục không ngừng được quan tâm, đặc biệt đối với giáo dục mầm non, hiện tại trên địa bàn huyện có 11 nhóm, lớp trẻ tư thục với 245 trẻ. Thực hiện chủ trương xây dựng xã hội học tập, phát triển các trung tâm học tập cộng đồng, xây dựng gia đình, dòng họ khuyến học; đã có 6/8 xã đã xây dựng trung tâm học tập cộng đồng, mạng lưới khuyến học phát triển rộng khắp trên địa bàn dân cư, cơ quan, trường học.

Cơ sở vật chất của ngành giáo dục được tăng cường, hệ thống trường lớp được xây dựng mới, kiên cố hoá, trong năm đã đầu tư, xây mới và đưa vào sử dụng 36 phòng học tại 4 trường học trên địa bàn. Tuy nhiên, cơ sở vật chất trường lớp chưa đáp ứng yêu cầu, hiện tại toàn bộ các trường học ở các cấp học trên địa bàn huyện chưa đạt chuẩn quốc gia theo quy định, nhiều trường, điểm trường thiếu quy mô diện tích; trang thiết bị dạy và học; các phòng chức năng theo quy định. Đặc biệt hiện tại có 2 xã mới tách là Cà Ná, Phước Ninh còn thiếu trường học đòi hỏi phải gấp rút đầu tư để đảm bảo phục vụ tốt cho nhu cầu học tập của con em.

Biểu 13: Hiện trạng trường học, học sinh, giáo viên

TT

Chỉ tiêu

ĐVT

Năm 2006

Năm 2007

Năm 2008

Năm 2009

Năm 2010

I

Số trường học

Trường

26

26

26

26

27

1

Trường mầm non

"

6

6

6

6

6

2

Trường tiểu học

"

14

14

14

14

14

3

Trường trung học cơ sở

"

6

6

6

6

6

4

Trường trung học phổ thông

"

 

 

 

 

1

 

Số học sinh đầu năm học

HS

10.888

10.896

10.571

10.627

11.498

1

Học sinh mầm non

"

1.068

1.111

1.053

1.085

1.124

2

Học sinh tiểu học

"

6.353

6.349

6.287

6.297

6.317

3

Học sinh trung học cơ sở

"

3.467

3.436

3.231

3.245

3.349

4

Học sinh TH phổ thông

"

 

 

 

 

708

III

Số giáo viên

GV

466

464

461

478

543

1

Giáo viên mầm non

"

45

46

44

46

49

2

Giáo viên trung học cơ sở

"

152

151

163

167

172

3

Giáo viên tiểu học

"

269

267

254

265

288

4

Giáo viên TH Phổ Thông

"

 

 

 

 

34

* Nguồn: - Tổng hợp tách niên giám thống kê huyện Ninh Phước 2006 – 2009, phòng TCKH ; phòng Thống kê.

 - Phòng Giáo dục huyện Thuận Nam, năm 2011

- Lĩnh vực đào tạo nghề: Công tác đào tạo nghề trên địa bàn huyện đã được quan tâm của các cấp ngành và có những chuyển biến tích cực, trong năm 2010 đã tổ chức được 27 lớp dạy nghề cho lao động nông thôn với 810 học viên tham gia, tập trung các nghề trồng nấm, may và xây dựng. Bên cạnh đó, thông qua các chương trình khuyến nông, khuyến công đã thực hiện chuyển giao khoa học kỹ thuật về chăn nuôi dê cừu; nuôi tôm; trồng rừng thâm canh cây Trôm; bảo quản thuỷ sản trên biển.... qua đó góp phần nâng cao chất lượng lao động, bổ sung nguồn nhân lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Năm 2010, tỷ lệ lao động qua đào tạo của huyện đạt khoảng 22% (ước tính trên cơ sở số liệu thống kê huyện Ninh Phước

3. Văn hoá, truyền thanh và thể dục, thể thao

Hoạt động văn hoá thông tin, phát thanh truyền hình đã góp phần nâng cao đời sống tinh thần các tầng lớp nhân dân và tuyên truyền phổ biến các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước. Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá tiếp tục được thực hiện, đến nay toàn huyện có 27/38 thôn đã phát động  xây dựng thôn văn hoá trong đó có 9 thôn đạt thôn văn hoá cấp huyện, đã thành lập được 26 đội văn nghệ cơ sở.

Hệ thống các thiết chế văn hoá ngày càng được quan tâm xây dựng, hiện có 1 nhà văn hoá xã (xã Phước Diêm), 2 thiết chế văn hoá, thể thao (xã Phước Ninh, xã Phước Hà), 6/8 bưu điện văn hoá xã, 6 sân bóng đá cơ sở, 32 sân bóng chuyền cơ sở, 6/8 có trung tâm học tập cộng đồng, 5 trạm truyền thanh.... Nhìn chung, các thiết chế văn hoá còn thiếu đặc biệt là trung tâm văn hoá huyện đã được quy hoạch nhưng chưa đầu tư xây dựng và tuyến cơ sở cần được quan tâm đầu tư.

Hoạt động thể dục thể thao quần chúng, công tác xã hội hoá thể dục thể thao được huyện quan tâm. Phong trào rèn luyện thân thể thông qua các môn bóng đá, bóng chuyền cầu lông, được duy trì và phát triển trong các cơ quan và các xã trong toàn huyện, 100% số trường học trong huyện có phong trào giáo dục thể chất; đã thành lập được 32 đội bóng chuyền và 10 đội bóng đá cơ sở tham gia thi đấu phục vụ địa phương nhân các ngày lễ lớn trong năm.

 Toàn huyện đã được phủ sóng truyền hình; 5 xã được trang bị hệ thống truyền thanh. Công tác thông tin tuyên truyền được thực hiện tốt, trong năm phòng văn hoá - thể thao – du lịch huyện đã thực hiện hơn 210 tin, bài cộng tác với Đài Phát thanh- Truyền hình tỉnh, Báo Ninh Thuận đưa tin phản ánh các hoạt động kinh tế- chính trị, văn hoá- xã hội tại địa phương. Tuy nhiên, hệ thống truyền thanh đến nay đã xuống cấp cần thiết phải đầu tư chuyển sang vô tuyến nhằm đảm bảo cung cấp thông tin, phục vụ tốt hơn cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

4. An ninh quốc phòng

Thực hiện các chủ trương của Trung ương và Tỉnh uỷ, Đảng bộ, chính quyền các cấp đã tập trung lãnh đạo thực hiện có kết quả nhiệm vụ phát triển kinh tế gắn với bảo đảm quốc phòng an ninh. Công tác bồi dưỡng, giáo dục kiến thức quốc phòng - an ninh được đẩy mạnh. Hàng năm cán bộ từ cấp huyện đến cấp xã, thị trấn đều được bồi dưỡng, cập nhật kiến thức về nhiệm vụ quốc phòng - an ninh.

Công tác xây dựng lực lượng quân sự, công an, dân quân tự vệ, dự bị động viên, lực lượng dân phòng được coi trọng về chính trị và tổ chức, trong đó đặc biệt chú trọng nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, chăm lo công tác chính trị trong lực lượng vũ trang; chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, vai trò của cấp uỷ, chi bộ trong Đảng bộ quân sự, công an.

Công tác tuyển quân, huấn luyện, diễn tập, hội thao hội thi, đều hoàn thành chỉ tiêu trên giaoxây dựng dân quân tự vệ đạt 1,4% so với dân số; tuyển quân hàng năm đều đạt 100% chỉ tiêu. Công tác thanh tra, kiểm tra giải quyết các khiếu nại, tố cáo của nhân dân và các tổ chức được duy trì thường xuyên và giải quyết kịp thời không để xảy ra các điểm nóng. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tiếp tục được củng cố và giữ vững.