Bệnh viện Đa Khoa Ninh Thuận
Bệnh viện Đa Khoa Ninh Thuận
Tìm hiểu về bệnh giãn tĩnh mạch nông, suy tĩnh mạch mạn tính hai chi dưới 
16/03/2018 
 

ĐẠI CƯƠNG

Giãn tĩnh mạch là biến đổi bất thường về giải phẫu, đặc trưng bởi sự giãn bệnh lý của một hoặc nhiều tĩnh mạch nông.

Suy tĩnh mạch mạn tính được định nghĩa là tình trạng các tĩnh mạch không thể bơm đủ máu nghèo oxy trở về tim. Bệnh này rất thường gặp ở chi dưới, xảy ra ở khoảng 10 - 35 % người lớn. Bệnh thường tiến triển chậm, không rầm rộ, ít nguy hiểm đến tính mạng nhưng trở ngại nhiều cho sinh hoạt và công việc hàng ngày, điều trị lâu dài và tốn kém nhất là khi có biến chứng.

Có 3 loại tĩnh mạch ở các chi: tĩnh mạch nông nằm trong da và dưới da, tĩnh mạch sâu nằm trong các nhóm cơ, và tĩnh mạch xuyên kết nối hai loại trên.

Máu ở chân trở về tim chủ yếu qua đường các tĩnh mạch sâu. Bình thường máu tĩnh mạch trở về tim nhờ có: (1) Lực đẩy từ đông mạch, lực hút do tim co bóp; (2) Áp lực âm trong lòng ngực hút máu về tim; (3) Sự co bóp của các khối cơ cẳng chân ("bơm cơ"), ép vào các tĩnh mạch sâu và đẩy máu đi về tim; và (4) Hệ thống van trong lòng tĩnh mạch, giữ không cho máu trào ngược dòng. 

Khi hệ thống van một chiều của tĩnh mạch bị suy, sẽ xuất hiện dòng máu trào ngược dẫn đến tình trạng ứ trệ máu trong lòng tĩnh mạch và làm tăng áp lực tĩnh mạch ở cẳng chân, lâu dần dẫn đến tình trạng suy tĩnh mạch mạn tính.

NGUYÊN NHÂN VÀ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA SUY TĨNH MẠCH MẠN TÍNH CHI DƯỚI

- Di truyền có vai trò lớn trong những nguyên nhân mắc giãn tĩnh mạch chân. Theo thống kê có 80% bệnh nhân giãn tĩnh mạch chân mãn tính có cha hoặc mẹ mắc bệnh.

- Giới tính cũng cho thấy nguy cơ bệnh cao hơn. Thường nữ mắc bệnh nhiều hơn nam do ảnh hưởng của nội tiết tố nữ, thai nghén lên thành tĩnh mạch, do phải đứng lâu trong một số ngành nghề đặc biệt như bán hàng, thợ dệt, do khối lượng cơ thấp hoặc dùng giày không thích hợp.

- Tăng trọng quá mức cũng là một nguyên nhân chủ yếu do tác động lên đôi chân khiến máu bị dồn về phía chân và trào ngược do gia tăng áp lực từ ổ bụng.

- Thói quen đứng hay ngồi lâu gây ứ trệ máu và tăng áp lực tĩnh mạch của chi dưới.

- Phẫu thuật có thể gây ra biến chứng huyết khối tĩnh mạch và viêm tĩnh mạch nhất là những phẫu thuật trong sản khoa và niệu khoa, các thủ thuật khác như bó bột, bất động lâu trong gãy xương…

- Huyết khối tĩnh mạch sâu ngăn cản dòng máu trở về tim.

- Viêm tĩnh mạch với hình thành huyết khối trong các tĩnh mạch sâu hoặc nông.

- Khiếm khuyết van do bẩm sinh.

- Nhiều yếu tố khác: Những người ăn theo chế độ nhiều chất bột, ít chất xơ hay bị táo bón, môi trường làm việc nóng và ẩm, lười thể dục, hút thuốc lá, tuổi trên 50... cũng rất dễ bị giãn tĩnh mạch.

TRIỆU CHỨNG VÀ DIỄN TIẾN TỰ NHIÊN CỦA SUY TĨNH MẠCH MẠN TÍNH CHI DƯỚI

Các triệu chứng và dấu hiệu sớm của bệnh bao gồm:

- Bệnh nhân có cảm giác nặng chân, mỏi chân, mất ngủ. Có khi thấy tê, ngứa, kiến bò vùng bàn chân.

- Vọp bẻ (chuột rút) ở bắp chân, thường xảy ra về đêm.

- Sưng phù xung quanh hai mắt cá, thấy rõ vào buổi tối.

- Các triệu chứng thường nặng lên về chiều tối, hoặc sau khi đứng lâu, sau một ngày làm việc, và giảm bớt vào buổi sáng khi ngủ dậy, hoặc sau khi nghỉ ngơi, kê chân cao.

Dãn mao mạch và dãn các tĩnh mạch nông ở chân

Có 3 loại dãn tĩnh mạch nông

- Dãn thân tĩnh mạch

- Dãn tĩnh mạch nhỏ dạng mạng nhện.

- Dãn tĩnh mạch nhỏ dạng lưới.

Các van bên trong tĩnh mạch dãn bị suy (mất chức năng).

Viêm tĩnh mạch huyết khối:

Là tình trạng sưng viêm của các tĩnh mạch nông hoặc sâu gây ra bởi cục máu đông. Gặp ở bệnh nhân bị các bệnh dễ đưa đến huyết khối, bệnh nặng, mổ lớn, ngồi lâu (nghề nghiệp, đi máy bay đường dài)...

Khi bị huyết khối tĩnh mạch nông: tĩnh mạch nổi hẳn lên, sờ ấm và cứng dọc theo tĩnh mạch, rất đau, có thể kèm đỏ da. 

Khi bị huyết khối tĩnh mạch sâu: gây tắc và ứ trệ, chân nóng, đau, sưng đỏ, có thể bị chảy máu, ngứa, đau nhức nhiều, nhiễm trùng thứ phát.

Huyết khối tĩnh mạch nông hiếm khi gây biến chứng, không nguy hiểm đến tính mạng, tuy vậy cần thăm khám cẩn thận để loại trừ huyết khối tĩnh mạch sâu phối hợp.

Huyết khối tĩnh mạch sâu đôi khi có thể bong ra và đi lên phổi, gây thuyên tắc động mạch phổi với tỷ lệ tử vong rất cao.

Loạn dưỡng da chân

Do rối loạn biến dưỡng: da phù nề, dày lên, có thể dẫn đến tróc vảy, chảy nước và chàm da, thay đổi màu sắc, sạm da và xơ cứng bì.              

Loét cẳng chân

Ở đoạn thấp, là biến chứng ở giai đoạn muộn nhất gây đau đớn và điều trị rất khó khăn. Ban đầu là loét nông, để lâu loét sẽ ăn sâu dần và rộng ra, dễ bội nhiễm, có thể tái đi tái lại nhiều lần.

CÁC XÉT NGHIỆM CẦN LÀM

- Công thức máu, chức năng gan thận

- Đông máu toàn bộ, TS, TC

- Đặc biệt: Siêu âm Dopper mạch máu hai chân

- Duplex Scan:  đo tốc độ dòng máu và xem xét cấu trúc các tĩnh mạch chân.

- Chụp X-quang tĩnh mạch để xem xét về giải phẫu của tĩnh mạch.

BIẾN CHỨNG

- Các biến chứng về rối loạn huyết động học: cẳng chân bệnh nhân bị sưng to, có triệu chứng đau buốt mặt sau cẳng chân, chuột rút về đêm.

- Nặng hơn bệnh nhân có thể bị viêm tắc tĩnh mạch, chân nóng, sưng đỏ, các tĩnh mạch nông nổi rõ và viêm cứng.

- Giai đoạn cuối cùng có thể diễn tiến đến tình trạng giãn to toàn bộ hệ tĩnh mạch, các tĩnh giãn rất lớn, ứ trệ tuần hoàn và rối loạn dinh dưỡng của da chân phía dưới gây viêm loét, nhiễm trùng rất khó điều trị.

- Cục thuyên tắc có thể tách rời khỏi thành tĩnh mạch, đi về tim và gây thuyên tắc động mạch phổi, một biến chứng rất nặng có thể đưa đến tử vong nếu không cấp cứu kịp thời.

ĐIỀU TRỊ SUY TĨNH MẠCH MẠN TÍNH

Dùng băng ép và tất ép:

Mục đích là để tạo áp lực lớn ở phía dưới, áp lực nhỏ ở phía trên và giảm đường kính lòng mạch, giúp máu tĩnh mạch lưu thông về phía trên dễ dàng hơn. Hai dụng cụ này được sử dụng để dự phòng bệnh suy giãn tĩnh mạch mạn tính, hỗ trợ cho các biện pháp điều trị nội khoa và phòng ngừa tái phát.

Dùng thuốc:

Dùng thuốc trợ tĩnh mạch và chống đông máu theo chỉ định và hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa.

Điều trị bằng thủ thuật và ngoại khoa:

+ Chích xơ:

Tĩnh mạch bao gồm ba hệ thống: nông, sâu và xuyên. Chích xơ chỉ dùng trong trường hợp tổn thương hệ thống tĩnh mạch xuyên. Bác sĩ sẽ tiêm thuốc gây xơ hóa toàn bộ tĩnh mạch. Bệnh nhân được chích xơ nhiều lần cho đến khi không còn giãn tĩnh mạch nữa.

+ Mổ cắt bỏ tĩnh mạch bị giãn:

Phẫu thuật kéo dài khoảng 5-10 phút, được áp dụng cho trường hợp tổn thương tĩnh mạch nông. Bác sĩ rạch ở mắt cá trong và nếp bẹn rồi luồn một dụng cụ có tên Stripper từ dưới mắt cá trong đi lên trên nếp bẹn để lôi toàn bộ tĩnh mạch bị giãn ra...

Sau phẫu thuật, bệnh nhân được băng ép toàn bộ chi và nằm bất động trên giường ba ngày.

+ Laser nội mạch cắt bỏ tĩnh mạch bị giãn:

Theo sau sự định vị của kim, ống thông được đưa vào bên trong tĩnh mạch. Sau khi đưa sợi laser vào, sự điều trị có thể được bắt đầu.

Với việc sợi laser được đặt vào vị trí chính xác của chức năng tĩnh mạch đùi (xác định bằng sóng siêu âm). Năng lượng laser sẽ mang lại dòng nhiệt phá hủy liên tục lên thành tĩnh mạch.

Liệu pháp laser được thực hiện suốt toàn bộ chiều dài tĩnh mạch giãn và sẽ giải quyết được kết quả tắc nghẽn hoàn toàn và vĩnh viễn của các tĩnh mạch.

Sau thời gian điều trị từ 30 - 40 phút, bệnh nhân có thể trở lại với trạng thái hoạt động bình thường.

PHÒNG BỆNH

- Không đứng hay ngồi một chỗ quá lâu.

- Không để trọng lượng cơ thể tăng nhanh trong một thời gian ngắn.

- Khi nghỉ ngơi, nên để chân cao hơn ngực, gác chân cao khi đi ngủ.

- Ăn nhiều rau, củ, quả và uống nhiều nước để chống táo bón.

- Tăng cường các hoạt động thể dục thể thao, tốt nhất là đi bộ mỗi ngày 15 phút.

- Tăng cường vận động hô hấp: Hít thở sâu và đúng.

- Xoa bóp và ngâm chân trong nước ấm.

- Tránh đi giày cao gót.

- Khi phát hiện ra các triệu chứng mắc bệnh cần phải đến bệnh viện ngay./.

Khoa Khám bệnh- Bệnh viện Đa khoa tỉnh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. TS. Lê Nữ Hòa Hiệp, 2014, Bài giảng Suy tĩnh mạch nông chi dưới mạn tính.

2. PGS. TS. Nguyễn Văn Trí, 2015, "Suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính - Góc nhìn lão khoa".

3. Nick Morrison, 2016,  Laser treatment of the incompetent saphenous vein. Handbook of venous disorders, p. 419 - 427.

 
Liên kết website