Bệnh viện Đa Khoa Ninh Thuận
Bệnh viện Đa Khoa Ninh Thuận
Những điều cần biết về viêm khớp dạng thấp 
04/07/2017 
 

1. ĐẠI CƯƠNG

Viêm khớp dạng thấp (Rheumatoid arthritis-RA) là một bệnh lý tự miễn điển hình do cơ thể tự sinh ra những chất chống lại chính khớp và gây đau, bệnh ảnh hưởng lên các khớp có màng hoạt dịch, diễn biến mạn tính với các biểu hiện tại khớp, ngoài khớp và toàn thân ở nhiều mức độ khác nhau. Bệnh diễn tiến phức tạp, gây hậu quả nặng nề, do đó cần được điều trị tích cực ngay từ đầu bằng các biện pháp điều trị hữu hiệu để làm ngưng hay làm chậm tiến triển của bệnh, hạn chế tàn phế và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh. Nguyên nhân gây viêm khớp dạng thấp hiện vẫn chưa rõ, nhưng một số chuyên gia cho là do sự phối hợp của yếu tố di truyền và các yếu tố môi trường. Có tiền sử gia đình mắc các bệnh tự miễn như viêm khớp dạng thấp, lupus hoặc bệnh tự miễn về tuyến giáp sẽ làm tăng nguy cơ bị viêm khớp dạng thấp. Những yếu tố khác cũng đóng vai trò nhất định trong sự phát triển bệnh viêm khớp dạng thấp là hormone, béo phì, tiếp xúc với khói thuốc lá và nhiều yếu tố môi trường khác.

Tỷ lệ viêm đa khớp dạng thấp thế giới gần 3% dân số, Khoảng 1.5 triệu người Mỹ bị viêm khớp dạng thấp (thống kê năm 2015), tại Việt Nam, tỷ lệ bệnh nhân mắc viêm khớp dạng thấp 0,55% dân số người lớn (> 15 tuổi).

Bệnh có thể khởi phát vào bất cứ lứa tuổi nào (kể cả trẻ nhỏ cũng có thể bị viêm khớp dạng thấp, còn được gọi là viêm khớp dạng thấp vị thành niên hoặc viêm khớp dạng thấp vô căn vị thành niên), nhưng độ tuổi thường dễ mắc bệnh là phụ nữ trong khoảng từ 20 đến 60 tuổi. Nam giới cũng có thể bị bệnh, nhưng sẽ ở lứa tuổi muộn hơn và ít hơn 3 lần so với nữ giới. Nguyên nhân của sự khác biệt về giới này hiện chưa được biết rõ, nhưng hormone có thể sẽ đóng những vai trò nhất định.

Sinh bệnh học của bệnh cũng như sự biến dạng khớp, hư khớp là do sự biến đổi của màng hoạt dịch khớp. Sụn khớp bị huỷ hoại do màng hoạt dịch bị viêm thấp và ngay cả xương dưới sụn cũng bị tấn công. Bệnh hay xảy ra ở khớp nhỏ ở bàn tay, cổ tay, khuỷu, gối, cổ chân, bàn ngón chân cả hai bên. Ngoài ra bệnh còn có thể tấn công màng bao gân duỗi hoặc gấp gây ra sự mất cân bằng của xương, khớp và dây chằng ở bàn tay. Khi bị viêm, bệnh nhân có cảm giác cứng tại khớp, khó vận động vào buổi sáng. Tình trạng này kéo dài, có thể tới vài giờ. Trong các đợt viêm như vậy, bệnh nhân thường rất đau đớn, khó hoặc không vận động được khớp, có thể kèm theo các triệu chứng của các cơ quan khác (biểu hiện tim, mạch, phổi...), có thể sốt, kém ăn, suy kiệt. Sau nhiều đợt viêm khớp tiến triển như vậy (một vài tháng hoặc một vài năm), các khớp có thể biến dạng.

Khám bệnh thường thấy các khớp sưng theo kiểu hình thoi, một số khớp bị nặng hơn khớp khác. Hạn chế vận động do đau và sưng. Bệnh lâu ngày có thể có nốt thấp.

Hiện nay, chưa có một xét nghiệm cận lâm sàng nào có thể chẩn đoán được chính xác bệnh viêm khớp dạng thấp. Các bác sĩ thường dựa vào một số dấu hiệu và triệu chứng cụ thể trong quá trình thăm khám, những dấu hiệu và triệu chứng này bao gồm thường xuyên bị sưng đau khớp đối xứng 2 bên, cứng khớp vào buổi sáng kéo dài ít nhất 30 phút.

Xét nghiệm máu phát hiện sự có mặt của các yếu tố gây viêm khớp dạng thấp (kháng thể) và các kháng thể kháng CCP (cyclic citrullinated peptide  - peptid citrullin mạch vòng) thường được sử dụng để chẩn đoán viêm khớp dạng thấp. Tuy nhiên, một số trường hợp có kết quả xét nghiệm máu là âm tính nhưng các dấu hiệu và triệu chứng bệnh lại dương tính.

Biến chứng của viêm khớp dạng thấp

Là một bệnh tự miễn nên viêm khớp dạng thấp tiến triển rất nhanh, rất khó điều trị dứt điểm và thường để lại nhiều biến chứng tàn khốc ở các khớp xương và các cơ quan khác trên cơ thể, các biến chứng và hậu quả của bệnh có thể gây ra là:

- Mất khả năng lao động: do hiện tượng cứng khớp làm hạn chế vận động, sức đề kháng cơ thể giảm, bệnh nhân đau đớn nhiều…

- Nguy cơ tàn phế: bệnh lâu ngày có thể dẫn tới teo cơ, dính khớp, biến dạng khớp gây ra tàn phế. Có khoảng 89% người bệnh viêm khớp dạng thấp bị cứng khớp, bàn tay khó cầm nắm, khó đi lại sau 10 năm phát bệnh.

- Viêm khớp dạng thấp làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch gấp 4 lần, các nghiên cứu cho thấy có tới 30% bệnh nhân có biến chứng tim mạch và 50% có thể dẫn tới tử vong.

- Gây khó thụ thai: theo một số nghiên cứu khoảng 25% phụ nữ bị viêm khớp dạng thấp gặp khó khăn trong việc thụ thai.

- Kể cả khi bệnh viêm khớp dạng thấp được kiểm soát, thì bệnh nhân vẫn có thể bị viêm xương khớp, thoái hóa khớp thứ cấp tại các khớp thường phải chịu nhiều sức nặng, như khớp gối, khớp hông và khớp mắt cá chân. Những tổn thương do viêm khớp dạng thấp gây ra với các khớp này sẽ phá vỡ sự toàn diện của các khớp, khiến các khớp này sẽ bị mòn hơn.

- Ngoài ra, tình trạng viêm sẽ làm nặng thêm tình trạng mất xương, vì thế bệnh viêm khớp dạng thấp cũng sẽ làm tăng nguy cơ bị loãng xương của phụ nữ - một bệnh khiến xương giòn và dễ gãy hơn do giảm mật độ xương và mất các mô xương.

- Vì viêm khớp dạng thấp gây ảnh hưởng đến chức năng miễn dịch, nên bệnh nhân dễ có nguy cơ phát triển các bệnh nhiễm trùng như: viêm phổi, viêm đường tiết niệu, viêm xoang, nguy cơ bị u lympho và các bệnh tự miễn khác cao hơn như: hội chứng Sjogren.

- Các biến chứng khác của viêm khớp dạng thấp bao gồm hội chứng ống cổ tay và trầm cảm.

Một số hình ảnh về bệnh viêm khớp dạng thấp.

 

 

 

2. ĐIỀU TRỊ

Mục tiêu hàng đầu của việc điều trị viêm khớp dạng thấp là ngừng tình trạng viêm, làm chậm quá trình tổn thương do bệnh gây ra, giảm tỷ lệ tiến triển bệnh. Bệnh càng được điều trị sớm, thì khả năng các khớp ngừng bị tổn thương càng cao. Điều quan trọng cần nhớ, một khi các tổn thương tại khớp đã hình thành, thì không có cách nào có thể hồi phục được những tổn thương này cả.

2.1. Nguyên tắc:

Điều trị toàn diện, tích cực, dài hạn và theo dõi thường xuyên. Các thuốc điều trị cơ bản hay còn gọi là nhóm thuốc DMARDs (Disease-modifying antirheumatic drugs) kinh điển (methotrexate, sulfasalazine, hydroxychloroquine...) có vai trò quan trọng trong việc ổn định bệnh và cần điều trị kéo dài. Các thuốc sinh học còn được gọi là DMARDs sinh học (kháng TNF a, kháng Interleukin 6, kháng lympho B) được chỉ định đối với thể kháng điều trị với DMARDs kinh điển, thể nặng hoặc tiên lượng nặng.
2.2. Điều trị cụ thể

Điều trị triệu chứng: giúp cải thiện triệu chứng viêm, giảm đau, duy trì khả năng vận động (các thuốc này không làm thay đổi được sự tiến triển của bệnh).
- Các thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs):

+ Các thuốc kháng viêm ức chế chọn lọc thường được lựa chọn ưu tiên: Celecoxib, Meloxicam, Etoricoxib.

+ Các thuốc thuốc kháng viêm ức chế không chọn lọc: Diclofenac, Piroxicam....
- Các Corticosteroids (Prednisolone, Prednisone, Methylprednisolone) 

+ Thường sử dụng ngắn hạn trong lúc chờ đợi các thuốc điều trị cơ bản có hiệu lực.

Điều trị cơ bản bằng các thuốc chống thấp làm thay đổi tiến triển của bệnh (DMARDs).

- Thể mới mắc và thể thông thường: sử dụng các thuốc DMARDs kinh điển 
+ Methotrexat, Sulfasalazin hoặc kết hợp: methotrexat với sulfasalazin hoặc hydroxychloroquine nếu đơn trị liệu không hiệu quả 

+ Kết hợp: methotrexat, sulfasalazin và hydroxychloroquine nếu kết hợp trên không hiệu quả 

- Thể nặng, kháng trị với các DMARDs kinh điển (không có đáp ứng sau 6 tháng) cần kết hợp với các thuốc sinh học (các DMARDs sinh học) 

+ Trước khi chỉ định các thuốc sinh học, cần làm các xét nghiệm để sàng lọc lao, viêm gan, các xét nghiệm chức năng gan thận và đánh giá mức độ hoạt động bệnh.
+ Kết hợp methotrexate và thuốc kháng Interleukin 6 (tocilizumab)

+ Hoặc kết hợp methotrexate và một trong 3 loại thuốc kháng TNFα sau: etanercept, infliximab, adalimumab, thuốc kháng lympho B (rituximab)

2.3. Các điều trị phối hợp khác 

- Các biện pháp hỗ trợ 

+ Tập luyện, hướng dẫn vận động chống co rút gân, dính khớp, teo cơ. 

Trong đợt viêm cấp: để các khớp nghỉ ở tư thế cơ năng, tránh kê, độn tại khớp. Khuyến khích tập ngay khi triệu chứng viêm thuyên giảm, tập tăng dần, tập nhiều lần trong ngày, cả chủ động và thụ động theo đúng chức năng sinh lý của khớp. 
+ Phục hồi chức năng, vật lý trị liệu, tắm suối khoáng, phẫu thuật chỉnh hình (cắt xương sửa trục, thay khớp nhân tạo khi có chỉ định). 

- Phòng ngừa và điều trị các biến chứng của điều trị, các bệnh kèm theo 

+ Viêm, loét dạ dày tá tràng: Phòng ngừa và điều trị bằng thuốc ức chế bơm proton, kèm thuốc điều trị Helicobacter Pylori (nếu có nhiễm HP). 

+ Cần bổ xung calcium, vitamin D để phòng ngừa loãng xương khi bệnh nhân sử dụng cortisteroid  bất cứ liều nào trên 01 tháng.

+ Thiếu máu: bổ sung acid folic, sắt, vitamin B12

- Phòng bệnh viêm khớp dạng thấp:

Viêm khớp dạng thấp là bệnh rất khó chữa khỏi, vì đây là bệnh do các hệ miễn dịch của cơ thể tự tấn công và hủy hoại màng hoạt dịch khớp gây nên một quá trình viêm không đặc hiệu, quá trình này kéo dài không chấm dứt, đi từ khớp này qua khớp khác. Vì vậy để phòng bệnh, cũng như hỗ trợ điều trị bệnh hiệu quả, người bệnh cần phải chú ý:

- Đảm bảo môi trường sống khô ráo, thoáng đãng, sạch sẽ vì môi trường sống ẩm thấp, thời tiết mưa lạnh là yếu tố thúc đẩy dẫn tới bệnh viêm khớp dạng thấp.

- Chế độ ăn uống hợp lý: xây dựng chế độ ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng, ăn nhiều rau xanh, trái cây, thực phẩm chứa nhiều Canxi, uống nhiều nước để hỗ trợ cho hệ khớp trong cơ thể không bị sớm suy thoái.

- Giữ trọng lượng cơ thể ở mức hợp lý sẽ giúp giảm đi trọng lượng chèn ép lên các khớp xương, từ đó giúp giảm nguy cơ mắc bệnh.

- Căng duỗi: cũng là một trong những cách phòng bệnh viêm khớp dạng thấp. Vì khi các cơ, khớp được căng duỗi sẽ giúp cho cơ bắp được tăng cường đồng thời củng cố lực cơ các khớp.

- Không nên đứng hoặc ngồi quá lâu, luôn giữ tư thế thẳng, thường xuyên xoa bóp ở bàn tay, ngón tay và các khớp, bên cạnh đó, để phòng tránh bệnh tái phát, người bệnh nằm trên giường phẳng, chắc, ngủ đủ giấc.

- Hạn chế mang vác nặng, làm việc sai tư thế: Những người làm việc văn phòng, thợ may, người thường xuyên làm các công việc lao động nặng nên chú ý không làm việc quá sức, dành thời gian nghỉ ngơi, vận động sau 1-2h làm việc để giúp hệ xương khớp được thư giãn, tránh tình trạng co cứng cơ, làm giảm thiểu khả năng mắc bệnh.

- Giữ tâm lý ổn định, hạn chế căng thẳng, tránh stress.

- Kiểm tra sức khỏe định kỳ: những đối tượng như người già, những người có tiền sử về bệnh xương khớp, những phụ nữ từ độ tuổi 30-50 nên đi kiểm tra sức khỏe định kỳ tại các cơ sở y tế chuyên khoa, nhằm chủ động phát hiện bệnh sớm, ngay từ giai đoạn đầu để điều trị bệnh hiệu quả.

KẾT LUẬN

Viêm khớp dạng thấp là bệnh mạn tính kéo dài, đòi hỏi quá trình điều trị phải kiên trì, liên tục có khi đến hết cả đời. Không có phương pháp điều trị đặc hiệu cho bệnh, việc điều trị chỉ nhằm mục đích giảm tình trạng viêm của khớp và dự phòng làm chậm quá trình tổn thương khớp. Thông thường việc điều trị chủ yếu là dùng thuốc, song đôi khi cần phải kết hợp với phẫu thuật trong một số trường hợp có biến dạng khớp nặng. Người bệnh cần phải kiên nhẫn và tuyệt đối tuân thủ theo các hướng dẫn của bác sĩ điều trị. Không được tự ý mua thuốc điều trị vì có thể sẽ làm cho tình trạng bệnh ngày càng trầm trọng hơn. Do vậy, khi có những dấu hiệu nghi ngờ bệnh cần phải đến các cơ sở y tế khám để sớm phát hiện bệnh và có phương pháp điều trị phù hợp, hiệu quả.

Thường xuyên luyện tập thể thao như đi bộ, bơi lội và đạp xe, có thể bảo toàn được khả năng vận động của các khớp và có thể duy trì sức mạnh của cơ bắp, do đó, có thể làm giảm đau, cải thiện tình trạng bệnh và giúp bệnh nhân kiểm soát cân nặng tốt hơn.

Nếu bệnh nhân viêm khớp dạng thấp đang được dùng các loại thuốc có corticoid (Prednisolon, Methyl Prednisolon) nên ăn hoặc uống thêm các chất có nhiều canxi như sữa và các sản phẩm của sữa (pho mát, sữa tươi, chua...) và ăn thức ăn giàu kali (chuối tiêu, rau cải, quả khô...). 

Cần loại bỏ một số quan niệm trước đây khi cho rằng, viêm khớp dạng thấp cũng là viêm xương khớp, thoái hóa khớp thông thường, điều đó sẽ làm bệnh nhân chủ quan, điều trị chậm trễ sẽ dẫn đến những biến chứng đáng tiếc không hồi phục.

Bệnh khó chữa, song nếu điều trị sớm và đúng cách, kiên trì chế độ luyện tập lâu dài sẽ mang lại kết quả tốt, có thể phòng tránh dính khớp, biến dạng khớp. Khi bị mắc bệnh, chúng ta cần đến bác sĩ chuyên khoa để được điều trị. Tuỳ theo giai đoạn tiến triển của bệnh mà bác sĩ sẽ thay đổi liều thuốc và hướng dẫn chế độ luyện tập phù hợp. Do đó, việc tái khám và tuân thủ điều trị, tập luyện là hết sức quan trọng. Nếu không kiên trì điều trị, các khớp dễ bị tổn thương nặng, bệnh nhân có thể tàn phế, gây ảnh hưởng đến đời sống và kinh tế của người bệnh, gia đình và xã hội./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Lê Anh Thư. Bệnh Viêm khớp dạng thấp. Nhà xuất bản Y học năm 2006 

2. Lê Anh Thư. Điều chỉnh các đáp ứng miễn dịch bằng các tác nhân sinh học, bước tiến trong điều trị Viêm khớp dạng thấp và một số bệnh lý tự miễn. Hội nghị thường niên, Hội Thấp khớp học TP Hồ Chí Minh, tháng 6 năm 2010

3. American College of Rheumatology Ad Committee on Clinical Guidelines. Guidelines for the Management of Rheumatoid Arthritis. Textbook of Rheumatology Fifth Edition. 10.1002, 2015

4. EULAR Congress News. Annual European Congress of Rheumatology. 14-17 June 2017 Roma, Italy.

                                                                 Khoa Khám Bệnh - Bệnh viện Đa khoa tỉnh

 
Liên kết website