Trung tâm Chăm sóc SKSS
Trung tâm Chăm sóc SKSS
NHỮNG GIẢI PHÁP GIẢM TAI BIẾN SẢN KHOA - TỬ VONG MẸ NĂM 2014 
22/01/2014 
 

Ngày xưa, ông bà ta nói “Đàn ông đi biển có đôi, đàn bà đi biển mồ côi một mình” hoặc “đi sinh như đi biển”, có thể gặp sóng gió nhận chìm tàu lúc nào chẳng biết được và người đàn bà rất dễ tử vong! Ngày nay, cứ mỗi năm, tỷ suất chết do thai sản trung bình trên thế giới là 400/100.000 trẻ sinh sống. Tỷ suất này ở các nước phát triển là 14/100.000; ở các nước Đông Nam Á là 200 và ở Việt Nam năm 2012 là 64. Điều đó có nghĩa là cứ 100.000 đứa trẻ được sinh ra còn sống ở Việt Nam thì có đến 64 bà mẹ bị tử vong. Riêng tại Ninh Thuận mỗi năm có 3-5 trường hợp tử vong mẹ, nguyên nhân gây tử vong mẹ là do các tai biến sản khoa và những nguyên nhân khác như: tim mạch, xuất huyết não, nhiễm trùng huyết, bệnh phổi...

Tai biến sản khoa là vấn đề sức khỏe xảy ra với bà mẹ và trẻ sơ sinh, có thể xảy ra trong lúc mang thai, trong lúc chuyển dạ, trong lúc sẩy thai hay sinh non, thậm chí trong thời gian hậu sản (6 tuần sau sinh) có 5 tai biến thường gặp là băng huyết sau sinh, tiền sản giật- sản giật, nhiễm trùng hậu sản, vỡ tử cung và uốn ván rốn và một tai biến rất hiếm gặp nhưng khi xảy ra thì tử vong mẹ gần 100%  đó là thuyên tắc ối.

Thời gian qua, Ngành y tế Ninh Thuận đã triển khai nhiều hoạt động dự phòng và điều trị tai biến sản khoa như: tăng cường công tác quản lý thai nghén tại cộng đồng, theo dõi chặt chẽ thai nghén có nguy cơ trong thai kỳ, chăm sóc tốt sản phụ trong 2 giờ đầu sau sinh tại phòng sanh, sử dụng túi đo lượng máu mất sau sanh, thường xuyên kiểm tra giám sát phương án dự phòng tai biến sản khoa... Mặc dù CBYT có nhiều nổ lực, song cũng có những hạn chế về trình độ chuyên môn, vì vậy trong những năm gần đây các tai biến sản khoa có giảm, nhưng các tai biến sản khoa và tử vong mẹ vẫn thường xảy ra chủ yếu tại các xã miền núi, vùng đồng bào dân tộc. Năm 2012 tỷ suất tai biến sản khoa là 3,05‰ (42/13.770 )/tử vong mẹ liên quan đến TBSK là 5 ca và năm 2013 giảm xuống còn 2,43‰ (30 ca/12.310 trẻ đẻ sống )/ Tử vong mẹ liên quan đến nguyên nhân khác là 3ca. Theo báo cáo của Vụ SKBMTE-BYT cả nước trong 9 tháng năm 2013, tỷ suất mắc tai biến sản khoa là 2,8‰ (4366/1.559.285 ca), năm 2012 (4270 ca).

Mặc dù tai biến sản khoa có giảm, dù y học có nhiều tiến bộ nhưng tai biến sản khoa vẫn luôn luôn rình rập, vẫn luôn là thách thức đối với ngành y và thầy thuốc nếu chúng ta chủ quan, lơ là không chú ý quan tâm thì chắc chắn các tai biến sản khoa sẽ không hạn chế mà sẽ gia tăng và chắc chắn tử vong mẹ sẽ tăng là điều không tránh khỏi.

Vì vậy để hạn chế và giảm thiểu các tai biến sản khoa, giảm tử vong mẹ, trong thời gian tới tập trung ưu tiên thực hiện những nhiệm vụ và giải pháp sau:

I. Nhiệm vụ trọng tâm:

1. Củng cố và kiện toàn mạng lưới CSSKSS từ tuyến tỉnh đến xã phường.

2. Xây dựng bản đồ xã trọng điểm về làm mẹ an toàn, giảm tai biến sản khoa. Ưu tiên chọn những xã miền núi và xã có nhiều tai biến sản khoa, tử vong mẹ. (chọn 18 xã ).

3. Đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng thực hành, kỹ năng đỡ đẻ cho đội ngũ YBS, NHS và cô đỡ thôn bản.

4. Chấn chỉnh hệ thống thống kê, báo cáo và tăng cường thu thập số liệu báo cáo LMAT từ hệ thống y tế tư nhân.

5. Sử dụng đội ngũ cô đỡ thôn bản hiệu quả (hiện còn 61 em .

6. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát việc thực hiện công tác làm mẹ an toàn/CCSK đặc biệt chú trọng đến các cơ sở y tế tư nhân có tổ chức đỡ đẻ tại địa phương.

II.Giải pháp:

1. Tăng cường sự chỉ đạo của chính quyền địa phương trong công tác phối hợp giữa Ngành y tế với các ban ngành đoàn thể để thực hiện tốt công tác làm mẹ an toàn tại các xã miền núi, xã khó khăn. (Tháng 10/2013 Sở Y tế đã có công văn gửi chủ tịch UBND các huyện v/v tăng cường sự chỉ đạo phối hợp thực hiện công tác làm mẹ an toàn ).

2. Thường xuyên kiểm tra giám sát quy trình chuyên môn kỹ thuật về khám thai, quản lý thai, chăm sóc trong khi sinh và sau khi sinh. Đặt biệt chú trọng kiểm tra việc chẩn đoán, theo dõi và cấp cứu sản khoa/ hồi sức sơ sinh nhằm hạn chế tai biến sản khoa tại cơ sở khám chữa bệnh.

3. Tổ chức đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, cập nhật kiến thức sản khoa cho cán bộ chuyên khoa đồng thời rà soát thực trạng cán bộ để có kế hoạch tăng cường hoặc bố trí cán bộ làm tốt công tác làm mẹ an toàn/CCSK.

4. Nâng cao tinh thần trách nhiệm và thực hiện đúng quy trình kỹ thuật trong việc thực hiện khám thai, đỡ đẻ, xử lý các bất thường trong thai nghén, trong chuyển dạ và trong phẩu thuật và thủ thuật sản khoa.

5. Cung cấp đầy đủ thuốc thiết yếu và thuốc cấp cứu sản khoa.

6. Giám sát hỗ trợ các Cô đỡ thôn bản thực hiện tốt nhiệm vụ chăm sóc bà mẹ có thai và sau sinh tại cộng đồng. Tăng cường cách tiếp cận và vận động các sản phụ ở các nương rẫy về Trạm y tế để khám thai và sinh đẻ tại CSYT.

 7. Duy trì công tác thông tin giáo dục truyền thông về Làm mẹ an toàn tại các xã khó khăn.

                                               BS Huỳnh Thăng Sơn
                                (Giám đốc Trung tâm Chăm sóc Sức khỏe sinh sản)

 

 
Liên kết website