Bệnh viện Đa Khoa Ninh Thuận
Bệnh viện Đa Khoa Ninh Thuận
ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP VÀ ĐẶC ĐIỂM RỐI LOẠN LIPID MÁU Ở NGƯỜI CAO TUỔI TĂNG HUYẾT ÁP TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH NINH THUẬN 
16/07/2013 
 

       TÓM TẮT

        Mở đầu: Tăng huyết áp và rối loạn lipid máu là những nguy cơ hàng đầu gây ra các biến cố về tim mạch, sự phối hợp tăng huyết áp và rối loạn lipid máu làm gia tăng biến cố về tim mạch. Vì vậy cần tích cực điều trị tăng huyết áp, tích cực tầm soát, phát hiện và điều trị rối loạn lipid máu kèm theo trên bệnh nhân tăng huyết áp.

        Mục tiêu: Khảo sát tình hình điều trị tăng huyết áp và đặc điểm rối loạn lipid máu trên bệnh nhân tăng huyết áp đến khám và điều trị tại phòng khám của Bệnh viện tỉnh Ninh Thuận.

        Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, thực hiện trên 290 bệnh nhân tăng huyết áp được điều trị ngoại trú tại Bệnh viện tỉnh Ninh Thuận trong thời gian từ 1/2012 đến tháng 6/2012.

        Kết quả: Trong số bệnh nhân có tiền sử THA, chỉ có 31,2% bệnh nhân thay đổi lối sống, trong số bệnh nhân đang điều trị THA chỉ có 30% bệnh nhân được kiểm soát huyếp áp. Có 95,9% bệnh nhân THA có rối loạn lipid máu. Thành phần bị rối loạn nhiều nhất là Triglyceride (92,4%), kế đến là LDL-C (66,2%), HDL-C (14,1%). Đa số (61,0%) bệnh nhân bị rối loạn 2 thành phần. Tỷ lệ bệnh nhân bị rối loạn các thành phần lipid máu có xu hướng tăng theo thời gian phát hiện tăng huyết áp.

        Kết luận: Tỷ lệ bệnh nhân được kiểm soát huyết áp đạt thấp (30%), tỷ lệ bệnh nhân có RLLP máu kèm THA rất cao (95,9%) tuy nhiên đa số chưa được phát hiện.

        ĐẶT VẤN ĐỀ

        Bệnh Tăng huyết áp (THA) ở nước ta càng gia tăng, là yếu tố nguy cơ chính gây ra các tử vong liên quan đến các biến cố về tim mạch (8). Bên cạnh THA, rối loạn lipid máu (RLLP) là một yếu tố nguy cơ quan trọng đối với các bệnh tim mạch (3) . Các yếu tố nguy cơ tim mạch thường có khuynh hướng xuất hiện cùng với nhau và làm gia tăng nguy cơ bị các biến cố về tim mạch. Tần suất nhồi máu cơ tim (NMCT) tăng gấp 3 - 4 lần, đột quỵ tăng gấp 2 - 3 lần ở bệnh nhân có THA và RLLP máu so với những bệnh nhân chỉ có THA hoặc RLLP máu đơn thuần (4). Vấn đề điều trị THA ngày nay không chỉ quan tâm đến con số huyết áp, mà còn quan tâm điều chỉnh các yếu tố nguy cơ tim mạch khác cùng phối hợp. Nghiên cứu này tìm hiểu tình hình điều trị THA và đặc điểm RLLP máu ở bệnh nhân THA lớn tuổi đến khám tại Bệnh viện tỉnh Ninh Thuận, nhằm góp phần thúc đẩy việc điều trị THA và RLLP máu ở người lớn tuổi tốt hơn tại địa phương.

        ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

        1. Đối tượng nghiên cứu:

        1.1 Dân số mẫu: tất cả bệnh nhân ≥ 60 tuổi đến khám tại Phòng khám của Bệnh viện đa khoa tỉnh từ tháng 1/2012 đến tháng 6/2012.

        1.2 Đối tượng lựa chọn đưa vào nghiên cứu: Những bệnh nhân có HA ≥ 140/90mmHg hoặc những bệnh nhân đã được chẩn đoán THA và đang điều trị.

        1.3 Đối tượng loại trừ: Bệnh nhân đang điều trị với corticoid, hormon thay thế, bệnh nhân có hội chứng thận hư, suy giáp, xơ gan; bệnh nhân khám lần đầu có HA ≥ 140/90mmHg nhưng trong lần khám sau có HA bình thường.

        2. Phương pháp nghiên cứu:

        - Thiết kế nghiên cứu : mô tả cắt ngang

        -  Kỹ thuật thu thập dữ liệu : Đối tượng nghiên cứu được khám lâm sàng, đo huyết áp theo quy trình hướng dẫn của Bộ Y tế, xét nghiệm lipid máu, thu thập các thông tin theo mẫu soạn sẵn. Chẩn đoán và phân loại huyết áp theo JNC 7, phân loại mức độ RLLP máu theo NCEP-ATP III.

        KẾT QUẢ

        Có 290 bệnh nhân tăng huyết áp được đưa vào nghiên cứu, 176 nữ (60,7%) và 114 nam (39,3%). Tuổi trung bình 70,68 ± 7,53, không có sự khác biệt về tuổi trung bình giữa Nam và Nữ.

        1. Tăng huyết áp:

        1.1 Tiền sử tăng huyết áp:

        - Trong 290 bệnh nhân có 34 bệnh nhân (11,7%) được phát hiện tăng huyết áp lần đầu, số còn lại 256 bệnh nhân (88,3%) đã có tiền sử tăng huyết áp. Thời gian phát hiện tăng huyết áp nhỏ nhất là 0,2 năm, lớn nhất là 37 năm, trung bình là 6,1 năm.

        1.2 Số đo huyết áp:

     Huyết áp tâm thu trung bình ở nam: 146,60  ± 16,78; nữ: 146,68 ± 18,17

     Huyết áp tâm trương trung bình ở nam: 85,55 ± 10,69; nữ: 84,55 ± 10,05

     Huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương trung bình của 2 nhóm nữ và nam không có sự khác biệt về thống kê (ptâm thu=0,972, ptâm trương=0,419)

        1.3 Dùng thuốc hạ huyết áp:

        - Trong 290 bệnh nhân, có 43 bệnh nhân không dùng thuốc điều trị tăng huyết áp, trong đó 34 bệnh mới phát hiện và 09 bệnh nhân đã biết bị tăng huyết áp.

        - Trong 247 bệnh nhân đang điều trị có 199 (80,6%) bệnh nhân dùng 1 loại thuốc, có 45 (18,2%) bệnh nhân dùng 2 loại thuốc và chỉ có 03 (1,2%) bệnh nhân dùng 3 loại thuốc.

    Bảng 1: Mức huyết áp theo điều trị.

Mức huyết áp

Điều trị THA

p

Có (n=247)

Không (n=43)

Bình thường

74 (30,0%)

0 (0,0%)

0,000

Tăng độ 1

145(58,7%)

29 (67,4%)

Tăng độ 2

28 (11,3%)

14 (32,6%)

    Bảng 2: Trung bình huyết áp tâm thu và tâm trương trên nhóm bệnh nhân có điều trị và không điều trị THA.

Huyết áp

Điều trị THA

p

Có (n= 247)

Không (n=43)

Tâm thu trung bình

144,09 ± 17,27

161,34 ± 11,27

0,000

Tâm trương trung bình

84,23 ± 9,94

89,01  ± 11,46

0,005

    1.4 Vấn đề thay đổi lối sống:

    Trong 256 bệnh nhân có tiền sử tăng huyết áp, chỉ có 80 (31,2%) bệnh nhân có thay đổi lối sống,  176 (68,8%) bệnh nhân không thay đổi lối sống.

    Bảng 3: Mức huyết áp trên các nhóm bệnh nhân có thay đổi lối sống.

Thay đổi lối sống

Mức huyết áp

p

Bình thường

Tăng

Không (n=176)

50 (67,6%)

126 (69,2%)

0,795

Có       (n= 80)

24 (32,4%)

56 (30,8%)

        2. Rối loạn lipid máu:

        2.1. Tiền sử rối loạn lipid máu: Chỉ có 28 (10,9%) bệnh nhân trong số 256 bệnh nhân có tiền sử THA được chẩn đoán RLLP máu trước đây. Trong khi đó, qua nghiên cứu nhận thấy có  đến 250 (97,65%) bệnh nhân có RLLP máu trong số 256 bệnh nhân có tiền sử THA. Trong số 28 bệnh nhân đã được chẩn đoán RLLP máu chỉ có 10 bệnh nhân đang uống thuốc điều trị rối loạn lipid máu, 18 bệnh nhân không điều trị.

        2.2. Tỷ lệ bệnh nhân bị rối loạn lipid máu:

        Các thành phần lipid máu được xem là bị rối loạn khi: Triglycerid ≥ 150mg%, HDL-C< 40mg%, LDL-C ≥ 130mg%.

    Bảng 4: Tỷ lệ bệnh nhân rối loạn các thành phần lipid theo giới.

Thành phần bị rối loạn

Số bệnh nhân

Cộng (n=290)

p

Nữ (n=176)

Nam (n=114)

Triglycerid

166 (94,3%)

102 (89,5%)

268 (92,4%)

0,128

HDL-C

21 (11,9%)

20 (17,5%)

41 (14,1%)

0,180

LDL-C

126 (71,6%)

66 (57,9%)

192 (66,2)

0,016

    Bảng 5: Số thành phần lipid máu bị rối loạn theo giới tính

Số thành phần bị rối loạn

Số bệnh nhân

Cộng (n=290)

p

Nữ (n=176)

Nam (n=114)

Không rối loạn

4 (2,3%)

8 (7,0%)

12 (4,1%)

0,001

1 thành phần

39 (22,2%)

38 (33,3%)

77 (26,6%)

2 thành phần

123 (69,9%)

54 (47,4%)

177 (61,0%)

3 thành phần

10 (5,7%)

14 (12,3%)

24 (8,3%)

    Bảng 6: Tỷ lệ bệnh nhân rối loạn các thành phần lipid theo nhóm tuổi.

Thành phần lipid máu bị rối loạn

Nhóm tuổi

p

Từ 60 – 69 t   (n=142)

Từ 70 t trở lên (n=148)

Triglycerid

136 (95,8%)

132 (89,2%)

0,034

HDL-C

26 (18,3%)

15 (10,1%)

0,046

LDL-C

98 (69,0%)

94 (63,5%)

0,322

    Bảng 7: Số thành phần lipid máu bị rối loạn theo nhóm tuổi.

Số thành phần lipid máu bị rối loạn

Nhóm tuổi

P

Từ 60 - 69 tuổi

(n=142)

Từ 70 tuổi trở lên

(n=148)

Không rối loạn

4 (2,8%)

8 (5,4%)

0,116

1 thành phần

31 (21,8%)

46 (31,1%)

2 thành phần

92 (64,8%)

85 (57,4%)

3 thành phần

15 (10,6%)

9 (6,1%)

         2.3. Nồng độ trung bình của các thành phần lipid máu:

        Nồng độ trung bình (mg%) của các thành phần lipid:

           - Triglycerid    : 288,40 ± 113,72

            - HDL-C         : 52,25   ± 11,16

            - LDL-C          : 146,53 ± 45,40

    Bảng 8: Nồng độ trung bình các thành phần lipid máu theo giới.

Thành phần

Nồng độ trung bình

p

Nữ  (n=176)

Nam (n= 114)

Triglycerid

296,66  ± 116,91

275,64  ± 107,88

0,124

HDL-C

52,69  ± 10,71

51,57  ± 11,85

0,404

LDL-C

151,10 ± 45,83

139,48 ± 43,98

0,033

    Bảng 9: Nồng độ trung bình các thành phần lipid máu theo tuổi.

Thành phần

Nồng độ trung bình

P

Từ 60 - 69 tuổi (n=142)

Từ 70 tuổi trở lên (n=148)

Triglycerid

301,30 ± 109,79

276,01 ± 116,39

0,58

HDL-C

51,42  ± 11,358

53,05  ± 10,947

0,216

LDL-C

149,47 ± 49,658

143,71 ± 40,861

0,281


    Bảng 10
: Nồng độ trung bình (mg%) của các thành phần lipid máu trong 28 bệnh nhân có tiền sử rối loạn lipid máu có điều trị và không điều trị

Thành phần

Nồng độ trung bình

p

Không điều trị (n=18)

Có điều trị (n=10)

Triglycerid

348,00 ± 94,03

287,00 ± 64,51

0,080

HDL-C

50,83 ± 9,97

44,20 ± 6,60

0,071

LDL-C

135,06 ± 39,20

148,70 ± 41,22

0,394

    2.4. Rối loạn các thành phần lipid máu và các yếu tố liên quan đến huyết áp:

    Bảng 11: Tỷ lệ rối loạn các thành phần lipid máu theo tiền sử THA.

Thành phần lipid máu bị rối loạn

Tiền sử tăng huyết áp

p

Không (n=34)

Có (n=256)

Triglycerid

28 (82,4%)

240 (93,8%)

0,018

HDL-C

3 (8,8%)

38 (14,8%)

0,344

LDL-C

15 (44,1%)

177 (69,1%)

0,004

    Bảng 12: Nồng độ trung bình của các thành phần lipid máu trên bệnh nhân có tiền sử THA.

Thành phần

Tiền sử THA

p

Không (n=34)

Có (n=256)

Triglycerid

279,59  ± 100,89

289,57  ± 115,45

0,632

HDL-C

55,21  ± 10,21

51,86  ± 11,24

0,101

LDL-C

121,71 ± 37,96

149,83 ± 45,34

0,001

    Bảng 13: Số thành phần lipid máu bị rối loạn theo tiền sử tăng huyết áp.

Số thành phần lipid máu bị rối loạn

Tiền sử THA

p

Không (n=34)

Có (n=256)

1 thành phần

14 (41,2%)

63 (24,6%)

0,001

2 thành phần

13 (38,2%)

164 (64,1)

3 thành phần

2 (5,9%)

22 (8,6%)

    Bảng 14: Tỷ lệ bệnh nhân rối loạn các thành phần lipid máu theo mức huyết áp.

Thành phần lipid máu bị rối loạn

Mức huyết áp

p

Bình thường (n= 74)

Tăng (n=216)

Triglycerid

67 (90,5%)

201 (93,1%)

0, 316

HDL-C

6 (8,1%)

35 (16,2%)

0, 085

LDL-C

54 (73,0%)

138 (63,9%)

0, 154

    Bảng 15: Nồng độ trung bình của các thành phần lipid máu theo mức huyết áp

Thành phần lipid máu

Nồng độ theo mức huyết áp

p

Bình thường (n=74)

Tăng (n=216)

Triglycerid

286,03 ± 123,12

289,21 ± 110,61

0,836

HDL-C

52,77 ± 10,23

52,07  ± 11,479

0,644

LDL-C

154,47 ± 43,792

143,81 ± 45,713

0,081

    Bảng 16: Tỷ lệ rối loạn các thành phần lipid máu giữa bệnh nhân mới phát hiện THA và bệnh nhân đã có tiền sử THA nhưng đang có huyết áp bình thường.

Thành phần lipid máu bị rối loạn

Bệnh nhân mới phát hiện THA (n=34)

Bệnh nhân có tiền sử THA và có HA bình thường (n=74)

p

Triglycerid

28 (82,4%)

67 (90,5%)

0,339

HDL-C

3 (8,8%)

6 (8,1%)

1,000

LDL-C

15 (44,1%)

54 (73,0%)

0,004

    Bảng 17: Nồng độ trung bình các thành phần lipid máu giữa bệnh nhân mới phát hiện THA và bệnh nhân đã có tiền sử THA nhưng đang có huyết áp bình thường.

Thành phần lipid máu

Bệnh nhân mới phát hiện THA

Bệnh nhân có tiền sử THA, có HA bình thường

p

Triglycerid

279,59  ± 100,887

286,03  ± 123,115

0,790

HDL-C

55,21  ± 10,212

52,77  ± 10,228

0,253

LDL-C

121,71 ± 37,955

154,47 ± 43,792

0,000

    Bảng 18: Tỷ lệ rối loạn các thành phần lipid máu theo thời gian phát hiện THA

Thành phần lipid máu bị rối loạn

Thời gian phát hiện THA

p

Lần đầu

(n=34)

Dưới 1 năm

(n=9)

1 đến 5 năm

(n=141)

6 đến 10 năm

(n=76)

Trên 10 năm

(n=30)

Triglycerid

28 (82,4%)

8 (88,9%)

130 (92,2%)

72 (94,7%)

30 (100,0%)

0,087

HDL-C

3 (8,8%)

1 (11,1%)

20 (14,2%)

12   (15,8%)

5 (16,7%)

0,880

LDL-C

15 (44,1%)

7 (77,8%)

95 (67,4%)

51 (67,1%)

24 (80,0%)

0,031

Bảng 19: Nồng độ trung bình của các thành phần lipid máu giữa bệnh nhân mới phát hiện tăng huyết áp và bệnh nhân đã được phát hiện tăng huyết áp từ 6 năm trở lên

Thành phần lipid máu

Nồng độ theo thời gian phát hiện tăng huyết áp

P1

P2

Lần đầu (n=34)

Từ 6 đến 10 năm (n=76)

Trên 10 năm (n=30)

Triglycerid

279,59 ± 100,887

272,57 ± 90,227

302,33 ± 74,926

0,717

0,315

HDL-C

55,21   ± 10,212

51,61  ± 11,041

50,13  ± 10,261

0,109

0,052

HLD -C

121,71 ± 37,955

145,82 ± 44,956

168,07 ± 49,515

0,008

0,000

    P1 : giữa nhóm lần đầu phát hiện THA và nhóm đã phát hiện THA từ 6 đến 10 năm

    P2 : giữa nhóm lần đầu phát hiện THA và nhóm đã phát hiện THA trên 10 năm

    2.5. Rối loạn các thành phần lipid máu theo hành vi thay đổi lối sống

    Bảng 20: Tỷ lệ rối loạn các thành phần lipid máu trên bệnh nhân có thay đổi lối sống.

Thành phần lipid máu bị rối loạn

Thay đổi lối sống

p

Không (n=176)

Có (n=80)

Triglycerid

165 (93,8%)

75 (93,8)

1,000

HDL-C

26 (14,8%)

12 (15,0%)

0,962

LDL-C

126 (71,6%)

51 (63,8%)

0,208

    Bảng 21: Nồng độ trung bình của các thành phần lipid máu trên bệnh nhân có thay đổi lối sống.

Thành phần lipid máu

Nồng độ theo thay đổi lối sống

p

Không (n=176)

Có (n=80)

Triglycerid

299,83  ± 126,05

266,99 ± 84,09

0,015

HDL-C

52,49  ± 11,95

50,46 ± 9,43

0,144

LDL-C

152,89 ± 46,74

143,10 ± 41,59

0,110

        BÀN LUẬN

        1. Về tăng huyết áp:

        - Tỷ lệ bệnh nhân tăng huyết áp độ 1 và độ 2; trung bình huyết áp tâm thu và trung bình huyết áp tâm trương đều thấp hơn có ý nghĩa thống kê trong nhóm có điều trị so với nhóm không có điều trị, tuy nhiên trong 247 bệnh nhân có điều trị chỉ có 74 (30%) bệnh nhân có mức huyết áp bình thường (bảng 1,2).Theo nhiều hướng dẫn (15,7), mục tiêu điều trị tăng huyết áp ở người cao tuổi tương tự như ở người trẻ, mức huyết áp cần đạt là < 140/90 mmHg, riêng đối với bệnh nhân có đái tháo đường và bệnh thận mạn, huyết áp mục tiêu cần đạt là < 130/80 mmHg. Trong nghiên cứu này, huyết áp tâm trương trung bình của tất cả bệnh nhân và ở cả 2 nhóm có điều trị và không điều trị đều <90mmHg (bảng 2), do đó cần quan tâm tập trung kiểm soát huyết áp tâm thu.

        - Chỉ có 31,2% bệnh nhân THA có thực hiện thay đổi lối sống, cho thấy vai trò của việc thay đổi lối sống trong kiểm soát tăng huyết áp chưa được bệnh nhân chú trọng đúng mức và nguyên nhân có thể do thầy thuốc chưa tư vấn đầy đủ cho bệnh nhân.

        Tỷ lệ bệnh nhân được kiểm soát huyết áp trong nghiên cứu này thấp có thể do bệnh nhân chưa thực hiện thay đổi lối sống và hầu hết bệnh nhân (80,6%) chỉ uống 1 loại thuốc, trong khi đó theo Theo khuyến cáo của Hội Tim mạch học Việt Nam (3), hầu hết các bệnh nhân tăng huyết áp cần ít nhất 2 loại thuốc chống huyết áp và khoảng 30% bệnh nhân cần 3 loại thuốc hay nhiều hơn. Các hướng dẫn điều trị quốc tế khuyến cáo sử dụng phối hợp thuốc liều thấp ngay từ khi bắt đầu điều trị tăng huyết áp để thay thế cho đơn trị liệu (2,5).

        2. Về rối loạn lipid máu:

        2.1  Tỷ lệ rối loạn các thành phần lipid máu:

        - Chỉ có 12 (4,1%) bệnh nhân không bị rối loạn thành phần lipid máu nào, còn lại 278 (95,9%) bệnh nhân có rối loạn ít nhất 1 thành phần lipid máu (bảng 5) như vậy có đến 95,9% bệnh nhân bị rối loạn lipid máu, đây là một tỷ lệ khá cao so với một số nghiêu cứu khác. Tỷ lệ rối loạn lipid máu trên bệnh nhân THA trong nghiên cứu của Mạch Chương Bình (6) là 80,88, của Nguyễn Đức Công (10) là 86,3%, đều thấp hơn kết quả của nghiên cứu này, có lẽ do có sự khác biệt về thời gian, địa điểm và độ tuổi của bệnh nhân trong các nghiên cứu (tuổi trung bình trong nghiên cứu của Nguyễn Đức Công là 57 ± 9,2; tuổi trung bình trong nghiên cứu Mạch Chương Bình là 72,08  ± 7,55).

        - Trong nghiên cứu này, tỷ lệ bệnh nhân bị rối loạn thành phần Triglyceride cao nhất (92,4%), kế đến là LDL-C (66,2%), HDL-C (14,1%) (bảng 4). Kiểu rối loạn tương tự như nghiên cứu của Mạch Chương Bình (6): Triglyceride bị rối loạn nhiều nhất (68,8%), kế đến LDL-C, HDL-C  (39,6%) và tỷ lệ rối loạn HDL-C (13,8%). Tỷ lệ rối loạn HDL-C khá cao trong nghiên cứu của Nguyễn Đức Công (40,0%) (10) và Châu Ngọc Hoa (42,0%) (1). Trong nghiên cứu của Châu Ngọc Hoa, đối tượng là những bệnh nhân THA từ 40 tuổi trở lên, trong nghiên cứu của Nguyễn Đức Công, tuổi trung bình của bệnh nhân là 57 ± 9,2, phải chăng ở bệnh nhân lớn tuổi hơn thành phần HDL-C ít bị rối loạn hơn hay đây là kết quả của quá trình chọn lọc. 

        - Bệnh nhân nữ có tỷ lệ rối loạn Triglycerid và LDL-C cao hơn bệnh nhân nam, ngược tỷ lệ rối loạn HDL-C thấp hơn bệnh nhân nam, sự khác biệt chỉ có ý nghĩa đối với LDL-C (bảng 4). Nghiên cứu của Mạch Chương Bình (6) cũng có kết quả tương tự, tỷ lệ nữ tăng Triglycerid và LDL-C cao hơn nam và tỷ lệ giảm HDL-C thấp hơn nam, tuy nhiên các sự khác biệt đều không có ý nghĩa thống kê. Trong một nghiên cứu tại cồng đồng của Nguyễn Văn Hoàng (11) cho thấy tỷ lệ tăng Triglycerid và LDL-C ở nữ đều cao hơn nam có ý nghĩa thống kê với p=0,001, riêng tỷ lệ giảm HDL-C ở nữ thấp hơn Nam nhưng không có ý nghĩa thống kê. Ngược lại, nghiên cứu của Nguyễn Đức Công (10) cho thấy không có sự khác biệt về tỷ lệ rối loạn các thành phần lipid giữa nam và nữ.

        - Đa số bệnh nhân bị rối loạn 2 thành phần lipid máu (61,0%), chỉ có 8,3% rối loạn cả 3 thành phần. Bệnh nhân Nữ có tỷ lệ rối loạn 2 thành phần cao hơn có ý nghĩa thống kê so với bệnh nhân Nam (bảng 5).

        - Các bệnh nhân từ 70 tuổi trở lên, có tỷ lệ rối loạn Triglycerid và HDL-C thấp hơn có ý nghĩa so với các bệnh nhân dưới 70 tuổi (bảng 6). Trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Hoàng (11), tỷ lệ rối loạn Triglycerid giảm có ý nghĩa thống kê qua các nhóm tuổi 60 – 69, 70 – 79 và ≥ 80 tuổi, tỷ lệ rối loạn Triglycerid theo thứ tự tương ứng với các nhóm tuổi là 56,3%. 49,6%, 46,1%. Nghiên cứu của Mạch Chương Bình (6) cũng cho thấy tỷ lệ rối loạn các thành phần lipid máu cũng có chiều hướng giảm khi tuổi bệnh nhân tăng lên. Trong nghiên cứu của Trương Quang Bình (14) về đặc điểm rối loạn lipid máu ở bệnh nhân có bệnh động mạch vành ghi nhận tỷ lệ rối loạn lipid, lipoprotein thường gặp nhất ở lứa tuổi 50 – 59, thấp nhất ở nhóm tuổi >70.

        - Ở bệnh nhân từ 70 tuổi trở lên, tỷ lệ rối loạn 2 và 3 thành phần thấp hơn so với bệnh nhân dưới 70 tuổi (bảng 7), tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa.

        2.2 Nồng độ trung bình của các thành phần lipid máu:

        - Trong tất cả 290 bệnh nhân, nồng độ trung bình của các thành phần lipid máu đều cao hơn ngưỡng bình thường. Nhìn chung các thành phần Triglycerid, LDL-C có xu hướng bị rối loạn nhiều hơn, còn HDL-C thay đổi ở mức độ trung gian. Trong nghiên cứu của Nguyễn Đức Công (10) và Mạch Chương Bình (6) thành phần bị rối loạn chủ yếu là Triglyceride; nồng độ trung bình của các thành phần LDL-C và HDL-C thay đổi trong giới hạn trung gian.

        - Nồng độ trung bình của các thành phần lipid máu của Nữ đều cao hơn Nam, tuy nhiên chỉ có sự khác biệt về LDL-C là có nghĩa thống kê (bảng 8). Trong nghiên cứu Mạch Chương Bình (3 ), nồng độ trung bình của các thành phần lipid máu ở Nữ cũng có xu hướng cao hơn Nam nhưng không có ý nghĩa thống kê. Trong Framingham Offspring Study (12), 62% phụ nữ sau mãn kinh có nồng độ Triglycerid cao hơn, 23% có nồng độ LDL-C cao so với phụ nữ tiền mãn kinh; ở phụ nữ sau tuổi mãn kinh, nồng độ LDL-C tăng và HDL-C giảm hơn đàn ông ở cùng độ tuổi.

        - Nồng độ trung bình của Triglyceride, LDL-C thấp hơn trong nhóm bệnh nhân từ 70 tuổi trở lên so với nhóm bệnh nhân từ 60 - 69 tuổi, tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (bảng 9). Trong nghiên cứu của Mạch Chương Bình (6), nồng độ trung bình của từng thành phần lipid máu giảm dần có ý nghĩa thống kê trong từng nhóm tuổi (60 – 74 tuổi,  75 – 89 tuổi và ≥ 90 tuổi), nồng độ trung bình của các thành phần lipid máu ở bệnh nhân ≥ 90 tuổi gần như bình thường.

        - Trong nhóm đã được chẩn đoán rối loạn lipid máu: nồng độ trung bình các thành phần lipid máu giữa 2 nhóm có điều trị bằng thuốc và nhóm không có điều trị bằng thuốc đều cao hơn ngưỡng bình thường và không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm (bảng 10). Điều này cho thấy việc điều trị chưa mang lại hiệu quả mong đợi (chưa đạt được mức bình thường và ngay cả chưa tạo ra được sự khác biệt với bệnh nhân không được điều trị).

         Từ những kết quả đã phân tích ở trên cho thấy: vấn đề rối loạn lipid máu kèm theo trên bệnh nhân tăng huyết áp trong nhóm nghiên cứu này chưa được quan tâm phát hiện đầy đủ, số bệnh nhân đã được phát hiện cũng chưa được tích cực điều trị.

        2.3 . Rối loạn các thành phần lipid máu và các yếu tố liên quan đến huyết áp:

        2.3.1  Rối loạn các thành phần lipid máu và tiền sử THA:

        - Bệnh nhân có tiền sử tăng huyết áp: tỷ lệ rối loạn các thành phần lipid máu đều cao hơn so với bệnh nhân không có tiền sử tăng huyết áp, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê đối với Triglyceride, LDL-C (bảng 11); nồng độ trung bình của các thành phần lipid thay đổi theo chiều hướng xấu hơn so với bệnh nhân không có tiền sử tăng huyết áp (bảng 12); tỷ lệ rối loạn 2 và 3 thành phần lipid máu đều cao hơn có ý nghĩa thống kê so với bệnh nhân không có tiền sử THA (bảng 13).

        2.3.2 Rối loạn các thành phần lipid máu và mức huyết áp:

        Trong nhóm nghiên cứu không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ rối loạn cũng như nồng độ các thành phần lipid máu giữa 2 nhóm hiện có mức huyết áp cao và nhóm có mức huyết áp bình thường (bảng 14,15). Trong nhiều nghiên cứu so sánh rối loạn lipid máu giữa các bệnh nhân có THA và không tăng huyết áp (9, 13 )cho thấy tỷ lệ rối loạn các thành phần lipid máu cao hơn có ý nghĩa thống kê trong nhóm có THA so với nhóm không THA, tuy nhiên điều này không thể suy ra cho các bệnh nhân có huyết áp bình thường nhờ đang điều trị, hay nói cách khác, không thể thấy huyết áp bệnh nhân đã được kiểm soát mà chủ quan cho rằng bệnh nhân ít có rối loạn lipid máu.

         Xét tỷ lệ rối loạn các thành phần lipid, nồng độ và số thành phần lipid bị rối loạn giữa 2 nhóm bệnh nhân: mới phát hiện THA và đang có huyết áp bình thường nhờ điều trị ta thấy:

        - Tỷ lệ bệnh nhân bị rối loạn LDL-C trong nhóm có huyết áp bình thường nhờ điều trị cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm mới phát hiện THA, tỷ lệ rối loạn Triglyceride cũng cao hơn trong nhóm có huyết áp bình thường nhờ điều trị nhưng không có ý nghĩa thống kê. (bảng 16).

        - Nồng độ Triglyceride, LDL-C cao hơn và HDL-C thấp hơn trong nhóm có huyết áp bình thường nhờ điều trị so với nhóm có huyết áp cao mới phát hiện (bảng 17), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với LDL-C (ở mức p<0,001).

        Như vậy không thể dựa vào mức huyết áp để tiên đoán tình hình rối loạn lipid máu trong nhóm bệnh nhân bao gồm những người có mức huyết áp bình thường nhờ đang điều trị.

        2.3.3 Rối loạn các thành phần lipid máu với thời gian phát hiện tăng huyết áp:       

        - Tỷ lệ bệnh nhân bị rối loạn các thành phần lipid máu có xu hướng tăng theo thời gian phát hiện tăng huyết áp, sự khác biệt có ý nghĩa đối với tỷ lệ bệnh nhân bị rối loạn LDL-C (bảng 18).

        - Nồng độ của các thành phần lipid máu cũng có xu hướng thay đổi theo chiều hướng xấu theo thời gian phát hiện tăng huyết áp (bảng 19)

        2.4 Rối loạn các thành phần lipid máu và hành vi thay đổi lối sống

        Tỷ lệ rối loạn các thành phần lipid không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa 2 nhóm có và không có thay đổi lối sống (bảng 20). Nồng độ trung bình của Triglyceride trong nhóm có thay đổi lối sống thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không có thay đổi lối sống. Nồng độ trung bình của HDL-C và LDL-C trong nhóm có thay đổi lối sống cũng thấp hơn so với nhóm không thay đổi lối sống, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (bảng 21). Tuy vậy, nồng độ trung bình của các thành phần lipid máu trong nhóm có thay đổi lối sống vẫn còn cao hơn so với mức bình thường.

        Qua kết quả trên, có thể nhận định ban đầu: thay đổi lối sống trên nhóm bệnh nhân nghiên cứu có ảnh hưởng rõ đến Triglycerid hơn các thành phần lipid khác, tuy nhiên thay đổi lối sống chưa đủ hoặc có thể là không đủ để cải thiện rối loạn lipid máu, cần phải kết hợp với thuốc điều trị.

        KẾT LUẬN

        - Đa số (70%) bệnh nhân chưa được kiểm soát tốt huyết áp, có lẽ do bệnh nhân chưa thực hiện thay đổi lối sống và việc điều trị chưa tích cực (80,6% bệnh nhân chỉ uống 1 loại thuốc)

        - Tỷ lệ rối loạn lipid máu trên bệnh nhân THA rất cao (95,9%), đa số bị rối loạn 2 thành phần (61,0%) nhưng chưa được phát hiện đầy đủ. Phần lớn (76,2%) bệnh nhân có nồng độ Triglyceride ở mức độ cao. Nữ có khuynh hướng RLLP máu nhiều hơn Nam. Tuổi từ 60-69 có khuynh hướng RLLP máu nhiều hơn so với tuổi trên 70. Việc điều trị RLLP máu hầu như chưa hiệu quả.

        - Tỷ lệ bệnh nhân bị RLLP máu và mức độ rối loạn có xu hướng tăng theo thời gian phát hiện tăng huyết áp.

        - Cần tích cực đưa mức huyết áp đạt đến mục tiêu điều trị đã được nhiều y văn khuyến cáo, đồng thời cần tích cực tầm soát và điều trị có hiệu quả các RLLP máu ngay cả trên những bệnh nhân đã được kiểm soát huyết áp.

                                                                                            BS.Võ Như An
                                                                                             (Bệnh viện tỉnh)

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

    1. Châu Ngọc Hoa (2005), “Chuyển hóa lipid và lipoprotein trên bệnh nhân tăng huyết áp và người bình thường”, Tạp chí Y học TP. HCM, số 9(1), tr.43-48.

    2. Dunn Ec, Small R.E (2001), “Economics of Antihypertensive therapy in the elderly”, Drugs Aging, 18 (7), pp.15-25.

    3. Huỳnh Văn Minh, Nguyễn Huy Dung, Phạm Gia Khải, Nguyễn Mạnh Phan và cs (2008), “Khuyến cáo của Hội tim mạch học Việt Nam về chẩn đoán, điều trị, dự phòng tăng huyết áp ở người lớn”, Khuyến cáo 2008 về bệnh lý tim mạch và chuyển hóa, TP. HCM : Nhà xuất bản Y học, tr.01-52.

    4. Kaplan N M (2002), Hypertension in the Elderly, Martin Dunitz Ltd, 2nd  ed, London: UK, pp.1-15, 61-84.

    5. Kaplan N M (2006), “Treatment of Hypertension: Drug therapy”, Kaplan’S Clinical Hypertension, 9th ed, USA: Lippincott William & Wilkins, pp.416-608.

    6. Mạch Chương Bình (2007), “Đặc điểm rối loạn lipid, lipoprotein máu ở bệnh nhân tăng huyết áp lớn tuổi”, Luận văn Thạc sĩ Y học, Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh.

    7. Mark A. Supiano (2009), “Hypertension: Jeffrey B. Halter, Joseph G. Ouslander”. Hazzard’s geriatric medicine and gerontology, 6th ed,  McGraw-Hill, pp.975-983.

    8. National Committee for Quality Assurance. Managing the Overall Risk of Cardiovascular Disease 2008 at http://www.qualityprofiles.org/leadership_series/cardiovascular_disease/cardiovascular_managingrisk.asp

    9. Nguyễn Đào Dũng (2005), “Khảo sát rối loạn lipid máu ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát”, Kỷ yếu các đề tài nghiên cứu khoa học hội nghị tim mạch Miền Trung mở rộng lần thứ III, tr.508-513.

    10. Nguyễn Đức Công, Lê Gia Vinh, Nguyễn Cảnh Toàn và cs (2005), “Nghiên cứu mối tương quan giữa lipid máu và huyết áp ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát”, Kỷ yếu các đề tài nghiên cứu khoa học hội nghị tim mạch Miền Trung mở rộng lần thứ III, tr.524-529.

    11. Nguyễn Văn Hoàng (2004), “Khảo sát một số đặc điểm bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An”, Kỷ yếu báo cáo khoa học Hội nghị Tim mạch Việt-Đức lần thứ 4, tr.53-60.

    12. Rutter MK, Meigs JB, Sullivan LM, D'Agostino RB Sr, Wilson PW (2004), “C-reactive protein, the metabolic syndrome, and prediction of cardiovascular events in the Framingham Offspring Study”, Circulation, 110, pp.380-385.

    13. Sarkar D, Latif SA, Uddin MM, et al (2007), “Studies on serum lipid profile in hypertensive patients”, Mymensingh Med J, 16 (1), pp.70-76.

    14. Trương Quang Bình (2006), “Sinh bệnh học xơ vữa động mạch”, Bệnh động mạch vành trong thực hành lâm sàng, TP. HCM: Nhà xuất bản Y học, tr.13-47.

    15. Wilbert S. Aronow, Jerome L. Fleg, Carl J. Pepine et al (2011), “ACCF/AHA 2011 Expert Consensus Document on Hypertension in the Elderly”, J Am Coll Cardiol, 57, pp.2037-2114.

 
Liên kết website