Đào tạo - Bồi dưỡng
Đào tạo - Bồi dưỡng
Báo cáo các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực y tế (Tại Hội nghị sơ kết 03 năm thực hiện Nghị quyết số 03 của Tỉnh ủy) 
06/02/2015 
 

Nhân lực có vai trò then chốt trong các yếu tố cấu thành nguồn nhân lực của xã hội, có được nguồn nhân lực tốt sẽ quyết định việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của đơn vị, của ngành. Trong những năm qua, được sự quan tâm của Tỉnh ủy, HĐND, UBND Tỉnh, Ngành Y tế đã cử đi đào tạo khá nhiều chức danh chuyên môn hiện còn thiếu, cần cho phục vụ sức khỏe nhân dân. Đồng thời cũng đã thu hút cán bộ y tế mặc dù số lượng còn khiêm tốn nhưng cũng đã góp phần chia sẽ bớt khó khăn của các đồng nghiệp trong ngành còn hết sức khó khăn về nhân lực y tế. Được sự cho phép của Ban tổ chức Hội nghị, Sở Y tế xin báo cáo tóm tắt về thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực y tế như sau:

I. Thực trạng nguồn nhân lực:

Tổng số cán bộ công chức, viên chức, lao động toàn ngành đến ngày 30/11/2014 là 2.522 người, chiếm 42,7 CBCCVC/10.000 dân, tăng 7,3% so với năm 2010 (Năm 2010 có 2.010 người). Trong đó có 420 bác sĩ, đạt 7,1 bác sĩ/10.000 dân, tăng 122  bác sĩ so với năm 2010 và 34 Dược sĩ đại học, đạt 0,57 dược sĩ/10.000 dân, tăng 21 dược sĩ đại học so với năm 2010.

1. Nhân lực y tế tuyến xã:

- Trạm Y tế xã, phường có bác sĩ: 31, đạt 47,7%, tăng 7 xã có bác sĩ so với năm 2010.

 - 100% Trạm Y tế xã, phường có Nữ hộ sinh trung cấp hoặc Y sỹ sản nhi.

2. Nhân lực y tế tuyến huyện:

- Cao đẳng: 21 (05 Điều dưỡng, 04 Kỹ thuật viên, 12 khác)

- Đại học: 115 (76 Bác sĩ, 04 Dược sĩ đại học, 04 Cử nhân Điều dưỡng, 01 Cử nhân Hộ sinh, 30 khác)

- Sau đại học: 29 (28 Bác sĩ CKI, 01 Bác sĩ CKII)

3. Nhân lực Y tế tuyến Tỉnh:

- Cao đẳng: 57 (27 Điều dưỡng, 06 Kỹ thuật viên, 24 khác)

- Đại học: 367 (151 Bác sĩ, 19 Dược sĩ, 31 Điều dưỡng, 41 Kỹ thuật viên, 03 Hộ sinh, 122 khác)

- Sau đại học: 112 (01Tiến sĩ bác sĩ, 03 Bác sĩ CKII, 17 Thạc sĩ y khoa, 83 Bác sĩ CKI, 05 Dược sĩ CKI, 03 Thạc sĩ khác)

4. Về đào tạo Bác sĩ hệ chính quy theo địa chỉ sử dụng:

Từ năm 2009 đến nay, Sở Y tế đã trình UBND tỉnh cử đi đào tạo 79 Bác sĩ học và 03 Dược sĩ đại học. Đã có 02 Bác sĩ và 01 Dược sĩ đại học ra trường về tỉnh công tác.

5. Về thu hút cán bộ y tế:

Từ năm 2007 đến nay, đã thu hút được 45 cán bộ y tế. Trong đó có 01 Tiến sĩ bác sĩ, 05 Bác sĩ CKI, 31 Bác sĩ, 06 Cử nhân Điều dưỡng và 02 Kỹ thuật viên cao cấp.

* Nhận xét:

- Về số lượng: Các cơ sở khám chữa bệnh đang thiếu nhiều Bác sĩ, còn tình trạng trực tua 03 đối với một số khoa, Bác sĩ chỉ được nghỉ 02 đêm, phải trực 01 đêm. Tua trực quá dày đã ảnh hưởng nhất định đến chất lượng chuyên môn vì sẽ giảm khả năng tập trung, không bảo đảm sức khỏe làm việc lâu dài. Đối với những chuyên khoa còn thiếu nhiều Bác sĩ, bệnh viện rất khó chủ động cử Bác sĩ đi đào tạo chuyên sâu ở tuyến trên vì không đủ Bác sĩ đảm nhiệm công việc tại chỗ.

- Về chất lượng: Toàn ngành đến nay chỉ có 01 Tiến sĩ bác sĩ, 04 Bác sĩ CKII. Lĩnh vực khám chữa bệnh hiện nay còn tình trạng Bác sĩ đa khoa, Điều dưỡng đa khoa đang công tác tại các chuyên khoa lâm sàng thay vì phải là Bác sĩ chuyên khoa, Điều dưỡng chuyên khoa.

- Đối với cán bộ quản lý: Hầu hết chưa qua trường lớp đào tạo bài bản về quản lý, chủ yếu được bổ nhiệm từ các cán bộ chuyên môn lên làm quản lý.

II. Các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực y tế:

1. Quy hoạch cán bộ: Cần phải có quy hoạch cán bộ để có kế hoạch đào tạo phù hợp giữa cán bộ quản lý và cán bộ chuyên môn.

2. Xây dựng kế hoạch đào tạo 5 năm của ngành và phải cập nhật, điều chỉnh hàng năm để phù hợp khi có sự biến động về nhân lực và yêu cầu nhiệm vụ của từng đơn vị trong ngành.

3. Về đào tạo chuyên môn kỹ thuật: Cần phải kết hợp giữa đào tạo tại chỗ và cử cán bộ về tuyến trên đào tạo. Đào tạo chính quy tập trung và cập nhật, bồi dưỡng kiến thức hàng năm tại chỗ.

- Đào tạo tại chỗ: Đây là loại hình thích hợp trong lúc Bệnh viện còn thiếu nhân lực. Thông qua Đề án 1816 và Đề án Bệnh viện vệ tinh, Sở Y tế đã mời các chuyên gia từ các Bệnh viện tuyến trên về chuyển giao kỹ thuật tại Bệnh viện Tỉnh.

- Hình thức cử cán bộ đi đào tạo:

+ Học tập trung tại tuyến trên: Bác sĩ, Dược sĩ Chuyên khoa I, Chuyên khoa II, Thạc sĩ, Tiến sĩ.

+ Học thêm một số kỹ thuật cao của tuyến Trung ương.

4. Đào tạo cán bộ quản lý: Có thể mời các chuyên gia về đào tạo tại tỉnh cho cán bộ quản lý y tế về nhiều chuyên đề: Quản lý nhân sự, quản lý tài chính, quản lý vật tư, trang thiết bị, quản lý chất thải y tế, quản lý an ninh trật tự trong bệnh viện …

5. Có chế độ chính sách đào tạo, thu hút, đãi ngộ cán bộ:

- Chế độ đào tạo: Tỉnh hỗ trợ kinh phí, học phí, tài liệu, sinh hoạt phí trong suốt thời gian học tập trung. Cần tăng thêm độ tuổi cử đi học sau đại học đối với ngành y tế do cán bộ y tế phải chờ có đủ người thay thế công việc tại chỗ mới được đi học.

- Thu hút, đãi ngộ: Có chế độ thu hút đủ mạnh đi đôi với chế độ đãi ngộ hợp lý để giữ chân và động viên cán bộ y tế toàn tâm, toàn ý với công việc.

6. Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật đáp ứng được yêu cầu phát triển chuyên môn kỹ thuật của đội ngũ y tế. Có chính sách viện phí phù hợp, tạo điều kiện cho Bệnh viện bảo đảm thu nhập của cán bộ y tế ổn định

7. Đào tạo nâng cao trình độ ngoại ngữ để nghiên cứu tài liệu nước ngoài, tiếp cận kiến thức mới của thế giới về nhiều lĩnh vực: Chuyên môn kỹ thuật, kinh nghiệm trong quản lý, điều hành đơn vị y tế…

8. Bồi dưỡng trình độ vi tính để ứng dụng công nghệ thông tin hiệu quả nhất trong quản lý điều hành, trong chuyên môn kỹ thuật, Hội chẩn từ xa qua mạng (Telemedicine).

9. Tăng cường hợp tác tốt với các Trường Đại học Y Dược, các Bệnh viện chuyên khoa đầu ngành để tranh thủ mời được các chuyên gia giỏi về tỉnh đào tạo tại chỗ, tổ chức Hội thảo khoa học, đồng thời giúp đỡ tận tình đối với cán bộ y tế của Tỉnh khi cử đi học tại tuyến trên (đã thực hiện thông qua Đề án 1816, Đề án Bệnh viện vệ tinh).

10. Cán bộ y tế phải tích cực nghiên cứu khoa học, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật nhằm giảm thời gian chờ đợi, giảm sự đi lại của đối tượng phục vụ, bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả.

11. Thường xuyên bồi dưỡng nâng cao nhận thức chính trị, y đức, kỹ năng giao tiếp, văn hóa ứng xử của cán bộ y tế đối với bệnh nhân và đối tượng phục vụ.

12. Bảo đảm tiến độ nâng cấp Trường Trung cấp Y tế lên Cao đẳng Y tế.

Đối với y tế huyện: Sở Y tế đã chỉ đạo các đơn vị chuyên khoa đầu ngành của Tỉnh có trách nhiệm khảo sát, đánh giá thực trạng và có biện pháp thích hợp hỗ trợ chuyển giao kỹ thuật. Kỹ thuật nào đủ điều kiện chuyển giao tại chỗ, thì đơn vị tuyến tỉnh phải cử cán bộ chuyên môn về chuyển giao theo gói dịch vụ kỹ thuật. Đối với những kỹ thuật đã có trang thiết bị, phương tiện đầy đủ, chỉ thiếu nhân lực tiếp nhận thì yêu cầu đơn vị cử cán bộ đi học có thể tại tuyến tỉnh hoặc phải lên tuyến trên (Đã thực hiện những năm qua).

Đối với y tế xã, phường còn hạn chế về công tác khám, chữa bệnh nếu xã, phường nào gần phòng khám đa khoa khu vực, bệnh viện huyện, Sở Y tế đã giao cho các cơ sở khám chữ bệnh tuyến trên tiếp nhận khám, chữa bệnh ban đầu cho nhân dân. Đối với các xã ở xa phòng khám, xa bệnh viện, Sở Y tế đã chỉ đạo Trung tâm Y tế huyện tăng cường bác sĩ về xã hoặc luân phiên bác sĩ về xã khám bệnh một số ngày trong tuần tùy thuộc vào quy mô dân số của xã.

Tóm lại, để có nguồn nhân lực y tế đáp ứng nhu cầu chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân phải có giải pháp đồng bộ: Vừa đào tạo, thu hút, đãi ngộ, vừa đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật đầy đủ, đồng thời phải có chính sách viện phí phù hợp và phải quan hệ hợp tác tốt với tuyến trên, tranh thủ sự giúp đỡ của các đơn vị chuyên khoa đầu ngành.

Dự kiến đến năm 2020, nguồn nhân lực của ngành sẽ đủ về số lượng, riêng về chất lượng,  ngành Y tế sẽ đi sâu vào một số chuyên khoa có tần suất chuyển viện cao hiện nay do vượt khả năng điều trị: Ngoại thần kinh, Ngoại chấn thương chỉnh hình, tim mạch can thiệp v.v… phấn đấu đến năm 2020 giảm tỷ lệ bệnh nhân phải chuyển tuyến trên do vượt khả năng điều trị đến mức thấp nhất.

 
Liên kết website