Nhập từ khóa...Tìm kiếm
Tin khác
Tin khác
NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT KHIẾU NẠI NĂM 2011 SO VỚI 
25/10/2012 
 
Luật Khiếu nại năm 2011 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII thông qua tại kỳ họp thứ 2, ngày 11-11-2011 và đã được Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký Lệnh công bố và Luật có hiệu lực từ ngày 01-7-2012. So với Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998, sửa đổi bổ sung năm 2004, 2005 (sau đây gọi tắt là Luật Khiếu nại, tố cáo) thì Luật Khiếu nại năm 2011 (sau đây gọi tắt là Luật Khiếu nại) có những điểm mới sau.
1. Về phạm vi điều chỉnh
 Luật Khiếu nại đã quy định rõ hơn về phạm vi điều chỉnh nhằm cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001 về quyền khiếu nại. Tại Điều 1, Luật Khiếu nại tiếp tục quy định về khiếu nại và giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước; khiếu nại và giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức; đồng thời có quy định rõ hơn về việc tiếp công dân; quản lý và giám sát công tác giải quyết khiếu nại. Ngoài ra, để bảo đảm quyền khiếu nại của công dân được quy định tại Điều 74 của Hiến pháp và cũng phù hợp với Luật Tố tụng hành chính năm 2010, thực tiễn giải quyết khiếu nại hiện nay và kế thừa quy định của Luật khiếu nại, tố cáo, Luật Khiếu nại quy định cụ thể tại Điều 3 về áp dụng pháp luật về khiếu nại và giải quyết khiếu nại.
2. Về khái niệm “Quyết định hành chính”
Theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo thì “Quyết định hành chính” là quyết định bằng văn bản của cơ quan hành chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính (Khoản 10, Điều 2).
Quy định về thuật ngữ trên của Luật khiếu nại, tố cáo dẫn đến thực tế có nhiều cách hiểu khác nhau về “quyết định hành chính”. Đó là:
- Quyết định hành chính phải là văn bản thể hiện dưới hình thức Quyết định do cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước; các loại văn bản thể hiện dưới hình thức khác như kết luận, thông báo, công văn…thì không được coi là quyết định hành chính và không thuộc đối tượng được khiếu nại.
- Quyết định hành chính bao gồm cả văn bản thể hiện dưới hình thức Quyết định và văn bản thể hiện dưới hình thức khác do cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành.
- Đối với văn bản của cơ quan nhà nước không được thể hiện dưới dạng hình thức Quyết định nhưng có chứa đựng nội dung quản lý hành chính nhà nước thì không được coi là quyết định hành chính mà coi đó là hành vi hành chính.
Từ các cách hiểu khác nhau này nên việc thi hành việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại trên thực tế chưa được thống nhất.
Để khắc phục tồn tại này và phù hợp với Luật Tố tụng hành chính năm 2010, Luật Khiếu nại đã quy định cụ thể về quyết định hành chính là đối tượng khiếu nại: “Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành để quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể ” (Khoản 8, Điều 2).
3. Về trình tự khiếu nại
Luật Khiếu nại, tố cáo quy định: khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì trong mọi trường hợp, người khiếu nại phải khiếu nại lần đầu với người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có cán bộ, công chức có hành vi hành chính (Điều 30). Quy định này đã hạn chế quyền được khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án của công dân.
Để khắc phục hạn chế trên, tại Điều 7, Khoản 1, Luật Khiếu nại quy định: “…người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính” mà không nhất thiết chỉ được khiếu nại với người có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại như trước đây. Việc khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án vẫn có thể thực hiện ở bất kỳ giai đoạn nào trong quá trình giải quyết khiếu nại (Điều 7).
Việc quy định trình tự khiếu nại như trên vừa tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong việc lựa chọn các hình thức giải quyết khiếu kiện của mình, bảo đảm quyền tự sửa chữa của người có quyết định hành chính, hành vi hành chính khi bị khiếu nại, đồng thời tạo ra cơ chế giải quyết khiếu nại khách quan, dân chủ, kịp thời và hiệu quả hơn.
4. Về khiếu nại nhiều người
Trên thực tế, tình trạng khiếu nại nhiều người diễn ra khá phổ biến, đòi hỏi Nhà nước xem xét, giải quyết để ổn định tình hình chính trị - xã hội. Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan, đơn vị trong việc xử lý đối với loại khiếu nại này, Luật Khiếu nại đã quy định mới tại Khoản 4, 5, Điều 8, Chương II, Chương III và Chương V về việc khiếu nại nhiều người với các quy định: Nhiều người đến khiếu nại trực tiếp (Khoản 4, Điều 8); nhiều người khiếu nại qua đơn (Khoản 5, Điều 8); đại diện nhiều người khiếu nại (Khoản 4, Điều 60); địa điểm để công dân thực hiện khiếu nại nhiều người và giải quyết khiếu nại nhiều người (Chương V) và quyết định giải quyết khiếu nại nhiều người (Khoản 3, Điều 31). Còn trình tự, thủ tục giải quyết đối với khiếu nại nhiều người vẫn tuân theo trình tự, thủ tục chung như giải quyết đối với từng người.
5. Về các khiếu nại không được thụ lý giải quyết (Điều 11)
 Ngoài những khiếu nại không được thụ lý để giải quyết mà Luật Khiếu nại, tố cáo đã quy định tại Điều 32, Luật Khiếu nại đã bổ sung thêm một số trường hợp khiếu nại không được thụ lý để giải quyết, cụ thể:
- Quyết định hành chính, hành vi hành chính trong nội bộ cơ quan nhà nước để chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, công vụ; quyết định hành chính, hành vi hành chính trong chỉ đạo điều hành của cơ quan hành chính cấp trên với cơ quan hành chính cấp dưới; quyết định hành chính có chứa đựng các quy phạm pháp luật do cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật; quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo danh mục do Chính phủ quy định.
- Đơn khiếu nại không có chữ ký hoặc điểm chỉ của người khiếu nại.
- Có văn bản thông báo đình chỉ việc giải quyết khiếu nại mà sau 30 ngày người khiếu nại không tiếp tục khiếu nại.
 Việc bổ sung quy định mới này nhằm thống nhất với Luật Cán bộ công chức năm 2008, Luật Tố tụng hành chính năm 2010 và đảm bảo hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức.
6. Quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại, người bị khiếu nại và của luật sư, trợ giúp viên pháp lý (Mục 2, Chương 2)
Luật khiếu nại, tố cáo đã có những quy định về quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại, người bị khiếu nại, luật sư. Tuy nhiên, việc quy định này chưa tạo ra sự công bằng, khách quan, công khai, dân chủ, thiếu những quy địnhh bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếu nại và người đại diện hợp pháp của họ. Để khắc phục tình trạng này, kế thừa các quy định còn phù hợp của Luật Khiếu nại, tố cáo, Luật Khiếu nại đã quy định cụ thể và đầy đủ hơn về quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại, người bị khiếu nại và của luật sư, bổ sung thêm quyền và nghĩa vụ của Trợ giúp viên pháp lý.
+ Về quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại (Điều 12). So với Luật Khiếu nại, tố cáo, Luật Khiếu nại đã quy định bổ sung người khiếu nại có thêm các quyền như quyền được uỷ quyền cho luật sư khiếu nại để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình; nếu người khiếu nại là người trong diện được trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật thì được nhờ trợ giúp viên pháp lý tư vấn về pháp luật hoặc uỷ quyền cho trợ giúp viên pháp lý khiếu nại để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình; quyền tham gia đối thoại hoặc uỷ quyền cho người đại diện hợp pháp tham gia đối thoại; quyền được biết, đọc, sao chụp, sao chép tài liệu, chứng cứ do người giải quyết khiếu nại thu thập để giải quyết khiếu nại, trừ thông tin, tài liệu thuộc bí mật nhà nước; quyền được yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đang lưu giữ, quản lý thông tin, tài liệu liên quan tới nội dung khiếu nại cung cấp thông tin, tài liệu đó cho mình trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày có yêu cầu để giao nộp cho người giải quyết khiếu nại, trừ thông tin, tài liệu thuộc bí mật nhà nước và quyền được yêu cầu người giải quyết khiếu nại áp dụng các biện pháp khẩn cấp để ngăn chặn hậu quả có thể xảy ra do việc thi hành quyết định hành chính bị khiếu nại.
+ Về quyền, nghĩa vụ của người bị khiếu nại (Điều 13). So với Luật Khiếu nại, tố cáo, Luật Khiếu nại đã quy định bổ sung thêm các quyền như quyền được biết, đọc, sao chụp, sao chép các tài liệu, chứng cứ do người giải quyết khiếu nại thu thập để giải quyết khiếu nại, trừ thông tin, tài liệu thuộc bí mật nhà nước; quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đang lưu giữ, quản lý thông tin, tài liệu liên quan tới nội dung khiếu nại cung cấp thông tin, tài liệu đó cho mình trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày có yêu cầu để giao cho người giải quyết khiếu nại, trừ thông tin, tài liệu thuộc bí mật nhà nước và người bị khiếu nại có nghĩa vụ tham gia đối thoại hoặc uỷ quyền cho người đại diện hợp pháp tham gia đối thoại; chấp hành quyết định xác minh nội dung khiếu nại của cơ quan, đơn vị có thẩm quyền giải quyết khiếu nại.
+ Về quyền, nghĩa vụ của luật sư, Trợ giúp viên pháp lý (Điều 16). Đây là nội dung hoàn toàn mới so với Luật khiếu nại, tố cáo. Cụ thể là Luật sư, Trợ giúp viên pháp lý có quyền tham gia vào quá trình giải quyết khiếu nại theo đề nghị của người khiếu nại; thực hiện các quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại khi được uỷ quyền; xác minh, thu thập chứng cứ có liên quan đến nội dung khiếu nại và cung cấp chứng cứ cho người giải quyết khiếu nại; được nghiên cứu hồ sơ vụ việc, ghi chép, sao chụp những tài liệu cần thiết có trong hồ sơ vụ việc để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếu nại. Bên cạnh đó Luật cũng quy định luật sư, trợ giúp viên pháp lý tham gia giải quyết khiếu nại có nghĩa vụ xuất trình thẻ luật sư, thẻ trợ giúp viên pháp lý và quyết định phân công trợ giúp pháp lý, giấy yêu cầu giúp đỡ về pháp luật hoặc giấy uỷ quyền của người khiếu nại; thực hiện đúng nội dung, phạm vi mà người khiếu nại đã uỷ quyền.
7. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại
Kế thừa quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo, Luật Khiếu nại tiếp tục quy định thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu thuộc về người có quyết định hành chính, hành vi hành chính; khiếu nại lần hai do Thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu giải quyết (từ Điều 17 đến Điều 26). Bên cạnh đó, Luật Khiếu nại đã có quy định mới về Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết khiếu nại giữa các cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của mình (Khoản 3, Điều 21); Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết khiếu nại giữa các cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của mình (Khoản 4, Điều 23) và Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền chỉ đạo, xử lý tranh chấp về thẩm quyền giải quyết khiếu nại giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh (Khoản 3, Điều 26).
8. Về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại
Luật Khiếu nại đã bổ sung một số quy định mới về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại cho phù hợp với thực tiễn theo hướng đơn giản, công khai, dân chủ, nhanh chóng, kịp thời, tạo điều kiện thuận lợi cho người khiếu nại. Cụ thể là làm rõ và bổ sung nhiều quy định mới về xác minh nội dung khiếu nại (Điều 29); trong quá trình giải quyết khiếu nại lần đầu thì có thể đối thoại trong trường hợp yêu cầu của người khiếu nại và kết quả xác minh nội dung khiếu nại còn khác nhau, song đối với giải quyết khiếu nại lần hai thì bắt buộc phải đối thoại để làm rõ nội dung khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại, hướng giải quyết khiếu nại.
Đối với vụ việc khiếu nại phức tạp, nếu thấy cần thiết, người giải quyết khiếu nại lần hai thành lập Hội đồng tư vấn để tham khảo ý kiến giải quyết khiếu nại. Để bảo đảm tính minh bạch trong giải quyết khiếu nại, người giải quyết khiếu nại lần hai phải công bố công khai quyết định giải quyết khiếu nại theo một hoặc một số hình thức công khai gồm: công bố tại cuộc họp cơ quan, tổ chức nơi người bị khiếu nại công tác; niêm yết tại trụ sở làm việc hoặc nơi tiếp công dân của cơ quan, tổ chức đã giải quyết khiếu nại; thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng.
9. Thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật
Để nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, bảo đảm cho các quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh, Luật Khiếu nại đã bổ sung Mục 4, Chương III về thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật. Cụ thể là Điều 44 quy định về quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật; Điều 45 quy định về những người có trách nhiệm thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật; Điều 46 quy định cụ thể về thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật đối với những người có trách nhiệm thi hành theo 03 nhóm đối tượng là người giải quyết khiếu nại, người khiếu nại và người có quyền, nghĩa vụ liên quan; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Các quy định mới này nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập, đồng thời bảo đảm tính khả thi trong việc thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật, tăng cường trách nhiệm, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân, nhất là người đứng đầu cơ quan, tổ chức.
10. Về khiếu nại, giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức
Khiếu nại, giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức là một loại khiếu nại, giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính nhưng là một loại khiếu nại, giải quyết khiếu nại đặc thù liên quan trực tiếp đến quyền lợi của cán bộ, công chức nên cần có cơ chế giải quyết riêng trong Luật khiếu nại. Hơn nữa Luật Cán bộ, công chức và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa quy định về khiếu nại và giải quyết khiếu nại đối với loại việc này. Do vậy, Luật Khiếu nại đã có một số các quy định mới là:
- Về xác minh nội dung khiếu nại đối với quyết định kỷ luật. Theo đó, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có trách nhiệm trực tiếp hoặc phân công người có trách nhiệm kiểm tra lại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức bị khiếu nại, xem xét nội dung khiếu nại. Nếu xét thấy nội dung khiếu nại đã rõ thì yêu cầu Hội đồng kỷ luật cán bộ, công chức xem xét để đề nghị người có thẩm quyền giải quyết. Trường hợp nội dung khiếu nại chưa được xác định rõ thì tự mình hoặc giao người có trách nhiệm xác minh, kết luận nội dung khiếu nại. Sau khi có kết quả xác minh nội dung khiếu nại thì yêu cầu Hội đồng kỷ luật cán bộ, công chức xem xét để đề nghị người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại.
- Về tổ chức đối thoại, Luật Khiếu nại quy định đối với giải quyết khiếu nại lần đầu và lần hai thì người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, trước khi ra quyết định giải quyết khiếu nại đều phải tổ chức đối thoại với người khiếu nại.
- Hiệu lực của quyết định giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức có hiệu lực pháp luật gồm: quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu có hiệu lực pháp luật sau 30 ngày, kể từ ngày ban hành mà người khiếu nại không khiếu nại lần hai; quyết định giải quyết khiếu nại lần hai có hiệu lực pháp luật sau 30 ngày, kể từ ngày ban hành.
- Thi hành quyết định giải quyết khiếu nại: đối với quyết định kỷ luật cán bộ, công chức có hiệu lực pháp luật thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi cán bộ, công chức làm việc có trách nhiệm công bố công khai quyết định giải quyết đến toàn thể cán bộ, công chức của cơ quan, tổ chức, đơn vị; áp dụng các biện pháp theo thẩm quyền hoặc phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan thi hành quyết định giải quyết khiếu nại đó; bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật (Điều 58).
11. Việc tổ chức tiếp công dân
Công dân đến trình bày không phân biệt loại việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh và thực tế cho thấy chỉ phân loại được nội dung vụ việc của công dân sau khi đã tiếp nhận, nghiên cứu sơ bộ bước đầu đơn của công dân. Trên cơ sở kế thừa quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo, Luật Khiếu nại dành một chương quy định về tổ chức tiếp công dân với những quy định mới sau:
- Trụ sở tiếp công dân của các cơ quan Đảng và Nhà nước được tổ chức ở trung ương và địa phương để tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo quy định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Như vậy, so với Luật Khiếu nại, tố cáo thì Luật Khiếu nại không chỉ quy định tiếp công dân ở các cơ quan trong bộ máy nhà nước mà mở rộng ra cả ở các cơ quan của Đảng.
- Luật Khiếu nại đã quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong công tác tiếp công dân; xác định rõ quyền và nghĩa vụ của người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh tại trụ sở tiếp công dân, địa điểm tiếp công dân, quy định trách nhiệm của cán bộ tiếp công dân và của người phụ trách trụ sở, địa điểm tiếp công dân.
- Về nội dung, Luật Khiếu nại quy định việc tiếp công dân không chỉ tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh liên quan đến khiếu nại, tố cáo mà còn cả các kiến nghị, phản ánh thể hiện những tâm tư, vướng mắc nói chung của công dân. Đây là nội dung mới nhằm bảo đảm thực hiện quyền dân chủ của nhân dân;
- Để bảo đảm cho việc tiếp công dân đạt hiệu quả cao, Luật Khiếu nại quy định cán bộ tiếp công dân có quyền từ chối tiếp công dân trong hai trường hợp: (1) khi người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh về vụ việc đã được kiểm tra xem xét và đã có quyết định hoặc kết luận giải quyết của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật và đã được trả lời đầy đủ và (2) những người vi phạm quy chế tiếp công dân.
- Để gắn trách nhiệm với người có trách nhiệm, Luật Khiếu nại đã quy định người phụ trách trụ sở, địa điểm tiếp công dân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của người có thẩm quyền, đồng thời xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý hành vi vi phạm pháp luật về khiếu nại, tố cáo của người có trách nhiệm trong giải quyết khiếu nại, tố cáo.
12. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc quản lý công tác giải quyết khiếu nại được Luật Khiếu nại quy định cụ thể và chi tiết hơn, nhất là trách nhiệm trong việc phối hợp trong công tác giải quyết khiếu nại; Luật cũng lược bỏ những trách nhiệm giám sát của Quốc Hội, Hội đồng nhân dân và đại biểu Quốc Hội, Hội đồng nhân dân vì vấn đề này đã được quy định trong các văn bản luật khác như Luật Giám sát Quốc hội...

                                                                      Trương Tiến Hưng