Nhập từ khóa...Tìm kiếm
Tin khác
Tin khác
LUẬT PHỔ BIẾN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT NĂM 2012, CƠ SỞ PHÁP LÝ QUAN TRỌNG TRONG VIỆC NÂNG CAO Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO NHÂN DÂN 
20/12/2012 
 
    Phổ biến, giáo dục pháp luật là hoạt động có tổ chức, có mục đích có tính định hướng tác động lên các đối tượng được giáo dục nhằm làm hình thành ở họ tri thức, tình cảm đối với pháp luật và có hành vi xử sự phù hợp với pháp luật hiện hành.
     Theo đó, mục đích của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật thường hướng tới ba nội dung là (1) truyền tải các qui định của pháp luật đến với người dân nhằm nâng cao hiểu biết pháp luật cho nhân dân mà không mất quá nhiều thời gian, công sức cho việc tự tìm hiểu, tự học tập của nhân dân; (2) dần hình thành lòng tin vào pháp luật cho nhân dân để nhân dân hiểu đúng pháp luật, đồng tình ủng hộ và thực hiện pháp luật và (3) nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật cho nhân dân qua đó, nâng cao hơn sự hiểu biết của nhân dân đối với pháp luật và các hiện tượng pháp luật trong đời sống để tiếp tục hình thành, củng cố tình cảm tốt đẹp của nhân dân với pháp luật và càng nâng cao hơn ý thức tự giác chấp hành pháp luật của nhân dân. Đây là một chu trình khép kín, với mục đích, tính chất của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật phát triển ngày càng cao hơn phù hợp trong mỗi giai đoạn phát triển của xã hội.
     Trong chu trình thực hiện pháp luật thì công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là khâu đầu tiên và có vai trò hết sức quan trọng trong việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Xuất phát từ vai trò, ý nghĩa quan trọng của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nên Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác này. Đặc biệt, Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân đã khẳng định: “Phổ biến, giáo dục pháp luật là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng”.
     Thực hiện các văn kiện của Đảng và pháp luật của Nhà nước về Phổ biến, giáo dục pháp luật, trong thời gian qua, các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các Bộ, ngành, đoàn thể và các địa phương đã chỉ đạo, tổ chức triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật có trọng tâm, trọng điểm, gắn với việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, địa phương. Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Hầu hết các văn bản quy phạm pháp luật đã được phổ biến bằng nhiều hình thức phong phú, phù hợp với từng nhóm đối tượng trên từng  địa bàn, cơ bản đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu pháp luật của cán bộ và nhân dân. Qua đó, hiểu biết pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân từng bước được nâng lên, góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật.
     Tuy nhiên, kết quả của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức và người dân trong xã hội chưa cao, ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, làm giảm tính nghiêm minh của pháp luật. Cụ thể là nhận thức của một số cán bộ, công chức, viên chức về công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật chưa thực sự đầy đủ và chưa tương xứng với vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác này; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về Phổ biến, giáo dục pháp luật còn tản mạn, chưa đồng bộ, hiệu lực pháp lý chưa cao, chủ yếu mới chỉ dừng ở các văn bản của Chính phủ, của Thủ tướng Chính phủ để chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc thực hiện mà chưa có văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nên việc triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là thiếu cơ sở pháp lý để xác định trách nhiệm và cơ chế phối hợp, huy động nguồn lực có hiệu quả giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp cũng như các tổ chức chính trị- xã hội và  chưa có cơ chế pháp lý dủ mạnh để thực hiện xã hội hóa hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo chủ trương của Đảng đã đề ra; việc huy động nguồn lực cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật chưa được tiến hành một cách đồng bộ và rộng khắp, nhất là ở cơ sở, miền núi, vùng sâu, vùng xa trong khi hệ thống các văn bản pháp luật được ban hành ngày càng nhiều, nội dung đa dạng, phức tạp, điều chỉnh nhiều loại quan hệ xã hội phục vụ tiến trình đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế.
     Trước tình hình đó, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, tại kỳ họp thứ 3, ngày 20/6/2012 đã thông qua Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật và ngày 02/7/2012, Chủ tịch nước đã ký lệnh công bố luật gồm 5 chương, 41 điều là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc nâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân trong điều kiện hiện nay, với những nội dung cơ bản sau:
     1. Về quyền được thông tin về pháp luật và trách nhiệm tìm hiểu, học tập pháp luật của công dân (Điều 2)
    
Đây là nội dung quan trọng nhằm thể chế hóa quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cụ thể hóa quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật khẳng định công dân Việt Nam có quyền được thông tin về pháp luật và có trách nhiệm chủ động tìm hiểu, học tập pháp luật. Đồng thời, Luật cũng xác định trách nhiệm của Nhà nước bảo đảm và tạo điều kiện cho công dân thực hiện quyền được thông tin về pháp luật thông qua các hoạt động tư vấn, hướng dẫn tìm hiểu pháp luật, cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật (Điều 15), chú trọng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và ngư dân (Khoản 2, Điều 17).
     2. Chính sách của Nhà nước trong Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (Điều 3) và xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (Điều 4)
    
Đây là những quy định đặt nền móng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, xác định hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, trong đó Nhà nước giữ vai trò nòng cốt.
     Cụ thể là Luật đã xác định chính sách xã hội hóa trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật với nhiều hình thức phong phú như: hòa giải ở cơ sở, khai thác tủ sách pháp luật, lồng ghép trong hoạt động văn hóa, văn nghệ, sinh hoạt của tổ chức chính trị và đoàn thể, câu lạc bộ và các thiết chế văn hóa khác ở cơ sở (Điều 11); quy định việc nhà nước có chính sách khuyến khích và hỗ trợ, tạo điều kiện đối với các cơ quan, các tổ chức xã hội trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (Điều 4); quy định về việc huy động cả hệ thống chính trị cùng tham gia công tác phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua việc xác định trách nhiệm cụ thể của các cơ quan, tổ chức, gia đình và cá nhân (Chương III). Đồng thời, Luật cũng khẳng định chính sách chung là Nhà nước bảo đảm nguồn lực cần thiết cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời quan tâm, tập trung nguồn lực phổ biến, giáo dục pháp luật cho một số đối tượng đặc thù tại Mục 2, Chương II của Luật.
     Đồng thời, Luật cũng quy định về quản lý nhà nước trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (Điều 6), trong đó quy định những nội dung quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật và xác định Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật, Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang bộ thực hiện quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật và Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật tại địa phương.
     3. Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật (Điều 7)
    
Qua thực tiễn hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trong thời gian qua cho thấy mô hình Hội đồng Phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là mô hình phối hợp liên ngành đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Do vậy, trong kết luận số 04-KL/TW ngày 19/4/2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng đã yêu cầu cần: “Phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và các thành viên của Hội đồng trong việc tham mưu và tổ chức thực hiện kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật ở từng cơ quan, đơn vị, địa phương”.
Thể chế hóa quan điểm trên, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật quy định  mô hình Hội đồng này được thành lập ở 03 cấp là: trung ương, cấp tỉnh và cấp huyện. Hội đồng các cấp có chức năng là cơ quan tư vấn cho các cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp và huy động nguồn lực cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Riêng đối với cấp xã, vì là cấp tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nên không cần thiết phải thành lập Hội đồng. Đồng thời, Luật cũng quy định tên của Hội đồng này là “Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật” cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ cụ thể của Hội đồng và Luật đã quy định cụ thể Cơ quan thường trực của Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ là Bộ Tư pháp, của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là Sở Tư pháp, của Ủy ban nhân dân cấp huyện là Phòng Tư pháp nhằm nâng cao vị trí, vai trò Cơ quan thường trực của Hội đồng.
     4. Về ngày Pháp luật nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 8)
    
Nhằm tôn vinh Hiến pháp, pháp luật, giáo dục ý thức tôn trọng và tự giác thực hiện pháp luật cho cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân, đồng thời nhằm ghi nhớ ngày ban hành Hiến pháp năm 1946 – văn bản luật cơ bản và quan trọng đầu tiên của Nhà nước Việt Nam, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật đã lấy ngày 09 tháng 11 hàng năm là Ngày Pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
     Việc quy định Ngày Pháp luật là một quy định mới, có ý nghĩa tích cực, góp phần đa dạng hóa các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật hiện có. Trong Ngày Pháp luật này, cả nước sẽ tổ chức đợt cao điểm về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm tác động mạnh mẽ vào ý thức pháp luật của nhân dân với nhiều hoạt động phong phú, thiết thực như: tập trung phổ biến, tuyên truyền các văn bản pháp luật liên quan đến mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó chú trong các văn bản luật mới ban hành, tổ chức tôn vinh khen thưởng, các tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, với sự tham gia của tất cả các cơ quan trong Bộ máy nhà nước, các tổ chức xã hội, các tổ chức hiệp hội nghề nghiệp về pháp luật, tổ chức, cá nhân hành nghề pháp luật đã được xã hội hóa như: luật sư, công chứng...để ngày này thực sự trở thành ngày hội pháp luật của toàn dân. 
     5. Nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật cho công dân (Điều 10)
    
Về nguyên tắc, nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật phải bảo đảm bao quát tất cả các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành. Tuy nhiên, do số lượng văn bản quy phạm pháp luật được ban hành hằng năm rất lớn, thuộc mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nên để công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đem lại hiệu quả thiết thực thì cần lựa chọn các lĩnh vực có liên quan trực tiếp đến đời sống và hoạt động nghề nghiệp của người dân hoặc tác động trực tiếp đến những ngành, lĩnh vực nhất định, phù hợp với tình hình thực tiễn trên từng địa bàn cụ thể. Trên cơ sở đó, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật quy định nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật là quy định của Hiến pháp và văn bản quy phạm pháp luật, trọng tâm là các quy định của pháp luật về dân sự, hình sự, hành chính, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, đất đai, xây dựng, bảo vệ môi trường, lao động, giáo dục, y tế, quốc phòng, an ninh, giao thông, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành; các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, các thỏa thuận quốc tế.
     Bên cạnh các quy định của pháp luật, nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật còn bao gồm ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, ý thức bảo vệ pháp luật, lợi ích của việc chấp hành pháp luật những gương người tốt, việc tốt trong thực hiện pháp luật nhằm góp phần tạo niềm tin vào pháp luật, xây dựng con người mới vừa có hiểu biết pháp luật, vừa có ý thức chấp hành pháp luật.
     6. Về hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật (từ Điều 11 đến Điều 16)
    
Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật đã quy định nhiều hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật phong phú và đa dạng nhằm đáp ứng tốt nhất quyền và nhu cầu tìm hiểu pháp luật cho mọi đối tượng trong xã hội, bảo đảm việc phổ biến, giáo dục pháp luật có hiệu quả trên thực tế như: (1) Họp báo, thông cáo báo chí; (2) Phổ biến pháp luật trực tiếp; tư vấn, hướng dẫn tìm hiểu pháp luật; cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật; (3) Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, loa truyền thanh, internet, pa-nô, áp-phích, tranh cổ động; đăng tải trên Công báo; đăng tải thông tin pháp luật trên trang thông tin điện tử; niêm yết tại trụ sở, bảng tin của cơ quan, tổ chức, khu dân cư; (4) Tổ chức thi tìm hiểu pháp luật; (5) Thông qua công tác xét xử, xử lý vi phạm hành chính, hoạt động tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và hoạt động khác của các cơ quan trong bộ máy nhà nước; thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý, hòa giải ở cơ sở; (6) Lồng ghép trong hoạt động văn hóa, văn nghệ, sinh hoạt của tổ chức chính trị và các đoàn thể, câu lạc bộ, tủ sách pháp luật và các thiết chế văn hóa khác ở cơ sở; (7) Thông qua chương trình giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân; (8) Các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật khác phù hợp với từng đối tượng cụ thể mà các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có thể áp dụng để bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đem lại hiệu quả.
     Trong các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật trên, có những hình thức Nhà nước, xã hội thực hiện trách nhiệm chủ động phổ biến, giáo dục pháp luật cho công dân, đáp ứng quyền của công dân được thông tin về pháp luật, nhưng cũng có những hình thức để người dân thực hiện quyền yêu cầu nhà nước cung cấp thông tin pháp luật, chủ động tìm hiểu các vấn đề pháp luật cụ thể và Nhà nước, xã hội có trách nhiệm đáp ứng các yêu cầu này của cá nhân như hướng dẫn tìm hiểu pháp luật, cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật...
     Để cụ thể hóa các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, Luật đã có 05 điều quy định về họp báo, thông cáo báo chí về văn bản quy phạm pháp luật (Điều 12) đăng tải thông tin pháp luật trên trang thông tin điện tử (Điều 13); phổ biến, giáo dục pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng (Điều 14); tư vấn, hướng dẫn tìm hiểu pháp luật, cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật (Điều 15) và phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua công tác xét xử, xử lý vi phạm hành chính, hoạt động tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo (Điều 16). Trong đó, hình thức đăng tải thông tin pháp luật trên trang thông tin điện tử và phổ biến, giáo dục pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng được Luật quy định cụ thể cho các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm thực hiện các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật này để bảo đảm tính khả thi, tăng cường trách nhiệm của cơ quan, tổ chức.
     7. Phổ biến, giáo dục pháp luật cho một số đối tượng đặc thù (từ Điều 17 đến Điều 22)
    
Nhóm đối tượng đặc thù được hiểu là các nhóm đối tượng còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế trong việc tiếp nhận thông tin, tìm hiểu, học tập pháp luật. Cụ thể, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật xác định có 06 nhóm đối tượng đặc thù là: người dân ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và ngư dân; người lao động trong các doanh nghiệp; nạn nhân bạo lực gia đình; người khuyết tật; người đang chấp hành hình phạt tù, người đang bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và người đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, người bị phạt tù được hưởng án treo.
      Nhằm tập trung nguồn lực phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo đảm quyền được tiếp cận thông tin, quyền bình đẳng trong việc được phổ biến, giáo dục pháp luật, Luật quy định những nội dung pháp luật phổ biến, giáo dục cho các nhóm đối tượng đặc thù trên phải có tính thiết thực và liên quan trực tiếp đến từng đối tượng với các hình thức phổ biến, giáo dục phù hợp; quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trực tiếp phổ biến, giáo dục pháp luật với những chính sách cụ thể trong việc phổ biến, giáo dục pháp luật cho các đối tượng đặc thù và khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong xã hội đầu tư, hỗ trợ công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho các đối tượng này.
     8. Giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân (Điều 23 và Điều 24)
    
Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật quy định giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân được lồng ghép trong chương trình giáo dục của các cấp học và trình độ đào tạo; là một nội dung trong chương trình giáo dục trung học cơ sở, trung học phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học.
     Luật quy định chung về yêu cầu đối với nội dung giáo dục pháp luật trong chương trình giáo dục của từng cấp học: mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học, theo đó nội dung giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân được xây dựng phù hợp với từng cấp học và trình độ đào tạo, phù hợp với mục tiêu giáo dục, ngành nghề đào tạo, bảo đảm tính thống nhất, phổ thông, cơ bản, thiết thực, đồng bộ và có hệ thống.
     Đối với hình thức giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân được thực hiện bằng 02 hình thức là Giáo dục chính khóa thông qua việc lồng ghép trong các hoạt động giáo dục ở cấp mầm non; môn học đạo đức ở cấp tiểu học; môn học giáo dục công dân ở cấp trung học cơ sở, trung học phổ thông; môn học pháp luật, pháp luật đại cương, pháp luật chuyên ngành tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học; các môn học trong cơ sở giáo dục khác của hệ thống giáo dục quốc dân và Giáo dục ngoại khóa và các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
     9. Về báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật và những người được mời tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật ở cơ sở (Điều 35-37)
    
Báo cáo viên pháp luật có vị trí rất quan trọng, giữ vai trò nòng cốt trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Nhằm luật hóa quy định về báo cáo viên pháp luật, Luật phổ biến, giáo dục pháp luật quy định báo cáo viên pháp luật là cán bộ, công chức, viên chức và sỹ quan trong lực lượng vũ trang nhân dân được cơ quan có thẩm quyền ra quyết định công nhận để kiêm nhiệm thực hiện hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật (Khoản 1, Điều 35). Đồng thời, Luật quy định các tiêu chuẩn chung, tối thiểu của một người được công nhận là báo cáo viên pháp luật gồm: Có phẩm chất đạo đức tốt, lập trường tư tưởng vững vàng, có uy tín trong công tác; có khả năng truyền đạt; có bằng tốt nghiệp đại học luật và thời gian công tác trong lĩnh vực pháp luật ít nhất là 02 năm; trường hợp không có bằng tốt nghiệp đại học luật, nhưng có bằng tốt nghiệp đại học khác thì phải có thời gian công tác liên quan đến pháp luật ít nhất là 03 năm.
     Bên cạnh đó, Luật cũng quy định thẩm quyền quyết định công nhận báo cáo viên pháp luật, xác định cụ thể địa vị pháp lý của báo cáo viên pháp luật và giao trách nhiệm cho cơ quan, tổ chức quản lý trực tiếp báo cáo viên pháp luật tổ chức rà soát, đề nghị cơ quan có thẩm quyền ra quyết định miễn nhiệm báo cáo viên pháp luật.
     Quy định về Tuyên truyền viên pháp luật và những người được mời tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật ở cơ sở trong Luật phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm cụ thể hóa chính sách xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật để huy động đông đảo những người có kiến thức, hiểu biết pháp luật tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật. Theo đó, người có uy tín, kiến thức, am hiểu về pháp luật được xem xét để công nhận là tuyên truyền viên pháp luật ở xã, phường, thị trấn hoặc được mời tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật ở cơ sở và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định công nhận tuyên truyền viên pháp luật.
     Ngoài ra, để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật còn quy định các biện pháp bảo đảm về tổ chức, cán bộ, cơ sở vật chất, phương tiện và kinh phí cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Đồng thời, để cụ thể hóa chính sách xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, Luật quy định Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tài trợ, hỗ trợ kinh phí cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo quy định của pháp luật.
   Có thể nói, toàn bộ những nội dung được quy định trong Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật nêu trên là những cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao hiểu biết pháp luật, dần hình thành lòng tin vào pháp luật và qua đó nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật cho nhân dân. Đây chính là điều kiện cần để xây dựng xã hội công dân, một xã hội thượng tôn pháp luật đặt nền móng vững chắc cho việc thực hiện thành công mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” 
Trương Tiến Hưng