Nhập từ khóa...Tìm kiếm
Nghiên cứu - Trao đổi
Nghiên cứu - Trao đổi
HỎI - ĐÁP VỀ LUẬT PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG NĂM 2018 
02/07/2020 
 
Anh Katơr Bóng ở thôn Bậc Rây 1, xã Phước Bình, huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận hỏi: Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018 đã sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung quy định quan trọng nhằm giúp cho các cơ quan hành pháp, tư pháp thực thi pháp luật về phòng, chống tham nhũng được khả thi hơn, mang lại hiệu quả cao hơn, vậy thì người dân chúng tôi cần hiểu biết những thông tin quan trọng nào của Luật và có nghĩa vụ gì để góp phần thực hiện tốt công tác phòng, chống tham nhũng trong xã hội hiện nay.
     Đáp: Như chúng ta đã biết, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2018, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2019; Luật này gồm có 10 chương, 96 Điều.
Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi.
     Như các bạn đã thấy, trong thời gian qua công tác phòng, chống tham nhũng đã đạt được nhiều kết quả tích cực, quan trọng, được cán bộ và Nhân dân đồng tình, hưởng ứng sâu rộng trong cả nước và trên trường quốc tế. Bên cạnh đó, tình hình tham nhũng vẫn diễn biến hết sức phức tạp trong xã hội, công tác phát hiện, xử lý tham nhũng vẫn chưa hoàn toàn đáp ứng yêu cầu thực tiễn cùng với xu hướng phát triển nhanh của nền kinh tế thị trường; số vụ việc, vụ án tham nhũng được phát hiện vẫn còn ít, một số vụ việc xử lý còn kéo dài, việc thu hồi tài sản tham nhũng đạt kết quả thấp, điều đó đã phần nào tạo tâm lý e ngại, hoài nghi trong xã hội về quyết tâm phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta. Trước tâm thế đó, Quốc hội đã biểu quyết thống nhất thông qua Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018 để kịp thời triển khai thực thi hiệu quả hơn công tác phòng, chống tham nhũng, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các chủ trương của Đảng về phòng, chống tham nhũng như Chỉ thị số 33-CT/TW ngày 03/01/2014 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc kê khai và kiểm soát việc kê khai tài sản, yêu cầu thực hiện thêm các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kê khai, kiểm soát tài sản như quản lý bản kê khai và việc sử dụng, khai thác dữ liệu bản kê khai nhằm phát hiện tham nhũng; Chỉ thị số 50-CT/TW ngày 07/12/2015 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng, yêu cầu thực hiện nhiều giải pháp về phòng, chống tham nhũng; ...
Theo quy định tại Điều 5 của Luật, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quyền và nghĩa vụ như sau: Có quyền phát hiện, phản ánh, tố cáo, tố giác, báo tin về hành vi tham nhũng và được bảo vệ, khen thưởng theo quy định của pháp luật; có quyền kiến nghị với cơ quan nhà nước hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng và giám sát việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng; có nghĩa vụ hợp tác, giúp đỡ cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong phòng, chống tham nhũng.
     Luật quy định các hành vi bị nghiêm cấm (theo Điều 8) như sau: (1) Tham ô tài sản; nhận hối lộ; lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi; giả mạo trong công tác vì vụ lợi; đưa hối lộ, môi giới hối lộ để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản công vì vụ lợi; nhũng nhiễu vì vụ lợi; không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi; đưa hối lộ, môi giới hối lộ để giải quyết công việc của doanh nghiệp, tổ chức mình vì vụ lợi; (2) Đe dọa, trả thù, trù dập, tiết lộ thông tin về người phản ánh, báo cáo, tố cáo, tố giác, báo tin, cung cấp thông tin về hành vi tham nhũng; (3) Lợi dụng việc phản ánh, báo cáo, tố cáo, tố giác, báo tin, cung cấp thông tin về hành vi tham nhũng để vu khống cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân khác; (4) Bao che hành vi tham nhũng; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc phát hiện, xử lý tham nhũng và các hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng quy định tại Mục 2 Chương IX của Luật này.
     Trong xu thế phát triển của xã hội hiện nay, việc đưa hối lộ, nhận hối lộ được thực hiện dưới nhiều hình thức và ngày càng phức tạp, tinh vi, trong đó hình thức phổ biến là tặng quà và nhận quà tặng. Theo Điều 22 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định về tặng quà và nhận quà tặng như sau: (1) Cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có chức vụ, quyền hạn không được sử dụng tài chính công, tài sản công làm quà tặng, trừ trường hợp tặng quà vì mục đích từ thiện, đối ngoại và trong trường hợp cần thiết khác theo quy định của pháp luật; (2) Cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có chức vụ, quyền hạn không được trực tiếp hoặc gián tiếp nhận quà tặng dưới mọi hình thức của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan đến công việc do mình giải quyết hoặc thuộc phạm vi quản lý của mình.
     Trong trường hợp không từ chối được việc nhận quà tặng thì cơ quan, tổ chức, đơn vị phải tổ chức quản lý, xử lý quà tăng theo quy định tại Điều 27 Nghị định số 59/2019/NĐ-CP ngày 01/7/2019 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật phòng, chống tham nhũng.
     Bên cạnh, quyền và nghĩa vụ của công dân được quy định tại Điều 5 của Luật, thì trách nhiệm của công dân cũng được quy định tại khoản 1 Điều 77 như sau: Công dân tự mình hoặc thông qua Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng hoặc thông qua tổ chức mà mình là thành viên tham gia phòng, chống tham nhũng.
     Ngoài ra Luật còn quy định: Cá nhân, tổ chức có quyền phản ánh về hành vi tham nhũng, cá nhân có quyền tố cáo về hành vi tham nhũng theo quy định của pháp luật (theo Điều 65); người có thành tích trong việc phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng thì được khen thưởng theo quy định của pháp luật (theo Điều 68); đồng thời theo Điều 69 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định: Người phản ánh, báo cáo về hành vi tham nhũng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực của nội dung phản ánh, báo cáo; người tố cáo hành vi tham nhũng phải chịu trách nhiệm về việc tố cáo của mình theo quy định của Luật Tố cáo./.
Xuân Hào)