Nhập từ khóa...Tìm kiếm
Sở hữu trí tuệ
Sở hữu trí tuệ
Truy xuất nguồn gốc: Từng bước chuẩn hóa 
09/08/2021 
 

(Khoa học và phát triển) Không còn chỉ là những mã QR Code với những thông tin đơn giản, sơ sài, việc truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa hiện nay đòi hỏi các nhà quản lý và các doanh nghiệp phải thực hiện những giải pháp cụ thể hơn nữa để những chiếc tem truy xuất trở nên thực sự có giá trị với cả doanh nghiệp và người tiêu dùng.


Người tiêu dùng quét mã QR trên sản phẩm với điện thoại thông minh. Ảnh: Mỹ Hạnh

Còn nhớ cách đây khoảng 7-8 năm, không ít người tiêu dùng vô cùng háo hức khi lần đầu tiên được “diện kiến” những trái dưa, những túi rau củ quả có tem dán mã QR được gọi là “truy xuất nguồn gốc”. Nhưng dường như chỉ một thời gian sau, những chiếc tem này không còn được nhiều người mặn mà nữa.

Giơ màn hình điện thoại vừa quét một mã QR Code dán trên sản phẩm trong một cửa hàng, chị Ngọc Trâm (Hoàng Mai, Hà Nội) giải thích lý do: “Khi quét mã QR, mình chỉ nhận được những thông tin đơn thuần là tên công ty cung cấp sản phẩm, còn những thông tin chi tiết mà mình muốn biết như sản phẩm đó dùng phân bón, hóa chất gì, đơn vị nào vận chuyển, số lô của sản phẩm ra sao thì không có”.

Trò chuyện với một vài khách hàng khác tại cửa hàng, câu trả lời mà phóng viên KH&PT nhận được cũng khá tương đồng: thông tin truy xuất còn chung chung, người tiêu dùng không thực sự tin tưởng vào tem truy xuất, cho rằng những thông tin này có thể bị “biến báo” do không biết có bên nào kiểm chứng hay không,...

Có nhưng chưa đủ

Đây là một thực trạng mà có lẽ nhiều người đều đã nhìn ra khi nói đến vấn đề truy xuất nguồn gốc tại Việt Nam. Hay như đánh giá của một đại diện đơn vị cung cấp giải pháp truy xuất nguồn gốc trong tọa đàm do Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng tổ chức vào năm 2019, những thông tin sơ sài trong các mã QR như vậy chỉ có thể gọi là “truy xuất thông tin chứ chưa phải là truy xuất nguồn gốc” - vốn cần phải có khả năng theo dõi, nhận diện được một đơn vị sản phẩm qua từng công đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh (chẳng hạn như giống cây để trồng loại rau đó là gì, trồng ở đâu, được sơ chế, vận chuyển ra sao,...). Mặt khác, do trước đây chưa có quy định cụ thể để chuẩn hóa về nội dung và hình thức cho tem truy xuất nguồn gốc nên đã dẫn tới việc mỗi đơn vị cung cấp giải pháp lại làm một kiểu khác nhau, thậm chí có thể gây “loạn tem”.

Ông Bùi Bá Chính - Phó Giám đốc phụ trách Trung tâm Mã số Mã vạch Quốc gia (Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng, Bộ KH&CN) cho hay, thực tế tại Việt Nam, đã có một số văn bản làm cơ sở để hướng dẫn và quản lý hoạt động truy xuất nguồn gốc, chẳng hạn như tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 22005:2008 - Xác định nguồn gốc trong chuỗi thực phẩm và thức ăn chăn nuôi - Nguyên tắc chung và yêu cầu cơ bản đối với việc thiết kế và thực hiện hệ thống do Bộ KH&CN công bố; hay hai Thông tư số 03/2011/TT-BNNPTNT và 74/2011/TT-BNNPTNT quy định về truy xuất nguồn gốc và thu hồi sản phẩm không đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm trong lĩnh vực thủy sản và thực phẩm nông lâm.

Tuy nhiên vấn đề là “dù tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 22005 có một số thông tin về truy xuất nguồn gốc trong chuỗi thực phẩm và thức ăn chăn nuôi, nhưng lại khó có thể áp dụng cho các đối tượng truy xuất khác. Tương tự, hai thông tư của Bộ NN&PTNT cũng chưa thể bao trùm hết các nhóm sản phẩm, hàng hóa trong lĩnh vực quản lý của bộ này và các bộ, ngành khác”, ông Chính cho biết.

Thiếu những tiêu chuẩn, quy định một cách toàn diện như vậy nên các doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng gặp khó khăn trong việc tự nghiên cứu, xây dựng triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc cho từng sản phẩm cụ thể. Mặt khác, hoạt động truy xuất nguồn gốc hiện nay mới chỉ tập trung ở một số địa phương và thị trường lớn như TP.HCM, Hà Nội...

“Các hệ thống truy xuất nguồn gốc ở Việt Nam hiện nay thường không có khả năng tham gia vào hệ thống truy xuất nguồn gốc khác do chưa thống nhất sử dụng các hệ thống mã phân định toàn cầu theo tiêu chuẩn của Tổ chức mã số mã vạch quốc tế GS1, mà thường sử dụng các mã phân định có cấu trúc tự đặt chỉ sử dụng được nội bộ. Ngoài ra, do không có sự quản lý và điều phối chung về cấu trúc mã phân định nên trường hợp trùng mã giữa các hệ thống truy xuất nguồn gốc khác nhau rất dễ xảy ra, khiến người tiêu dùng nghi ngờ về tính xác thực sản phẩm của các hệ thống này”, ông Bùi Bá Chính chỉ ra vấn đề.

Một điểm quan trọng khác trong quy trình truy xuất nguồn gốc chuẩn, cũng như là yếu tố cốt lõi để người tiêu dùng có thể tin tưởng vào thông tin trong tem truy xuất nguồn gốc, đó chính là phải có một bên thứ ba giám sát, chứng thực được các thông tin truy xuất trong toàn bộ chuỗi quá trình tạo ra sản phẩm.

“Hiện tại, chưa có mô hình đánh giá chứng nhận hệ thống truy xuất nguồn gốc ở Việt Nam. Hoạt động đánh giá chứng nhận cũng chưa phổ biến nên thiếu sự đánh giá hệ thống truy xuất nguồn gốc của bên thứ ba, không đảm bảo được tính khách quan, mức độ chất lượng và khả năng cải tiến của hệ thống truy xuất nguồn gốc ở các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay”, ông Bùi Bá Chính cho biết.

Trong khi đó, tại một số nước như Hàn Quốc, Nhật, Canada, Nga, Singapore…, các quốc gia này lại đưa ra yêu cầu các lô hàng nhập khẩu phải có khả năng truy xuất nguồn gốc khi gặp sự cố về chất lượng. Do vậy, nếu việc truy xuất nguồn gốc sản phẩm không đúng, đủ, phù hợp với các tiêu chuẩn của thế giới thì sẽ ảnh hưởng nặng nề đến cả các doanh nghiệp Việt Nam chứ không phải chỉ là ảnh hưởng tới thị trường và tâm lý băn khoăn của người tiêu dùng trong nước.

Truy xuất nguồn gốc thông qua việc áp dụng các công nghệ tiên tiến sẽ giúp minh bạch thông tin về sản phẩm hàng hóa, tạo thuận lợi cho công tác quản lý, đồng thời chống lại gian lận thương mại, giúp truy cập thông tin nhanh chóng và chính xác, phát hiện những điểm không hợp lý để chủ động cải tiến, khắc phục, tăng năng suất chất lượng cho sản phẩm hàng hóa, và đặc biệt giúp doanh nghiệp tiến thêm một bước trong việc thâm nhập chuỗi cung ứng toàn cầu, nâng cao vị thế của sản phẩm Việt Nam. Ông Trần Văn Vinh - Tổng cục trưởng Tổng cục TCĐLCL cho biết

Hướng đến sự thống nhất

Trước sự thiếu vắng một chuẩn chung cho hoạt động truy xuất nguồn gốc như vậy, hiện nay, Bộ KH&CN đang từng bước hoàn thiện các văn bản pháp luật và xây dựng các tiêu chuẩn để hoạt động truy xuất nguồn gốc trở nên thống nhất trên toàn quốc.

Là đơn vị chủ trì thực hiện đề án 100 về triển khai, áp dụng và quản lý hệ thống truy xuất nguồn gốc (do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2019), hai năm trở lại đây, Bộ KH&CN và cụ thể là Trung tâm Mã số Mã vạch Quốc gia đã tham gia xây dựng và ban hành được 23 tiêu chuẩn quốc gia trong lĩnh vực truy xuất nguồn gốc, chẳng hạn như TCVN 13274:2020 Truy xuất nguồn gốc – Hướng dẫn định dạng các mã dùng cho truy vết, TCVN 13275:2020 Truy xuất nguồn gốc – Định dạng vật mang dữ liệu, TCVN 12850:2019 Truy xuất nguồn gốc – Yêu cầu chung đối với hệ thống truy xuất nguồn gốc,TCVN 12851:2019 Truy xuất nguồn gốc - Yêu cầu đối với tổ chức đánh giá và chứng nhận hệ thống truy xuất nguồn gốc, TCVN 12827:2019 Truy xuất nguồn gốc – Yêu cầu đối với chuỗi cung ứng rau quả tươi,...

“Những tiêu chuẩn truy xuất này sẽ dần tạo ra nền tảng giúp chuẩn hóa việc triển khai truy xuất nguồn gốc. Thông tin truy xuất sẽ được thu thập đầy đủ, không thừa, không thiếu để đảm bảo việc thu hồi sản phẩm và phân định trách nhiệm khi cần. Có thể nói, việc thực hiện theo các tiêu chuẩn này sẽ giúp đảm bảo độ tin cậy của thông tin truy xuất, cũng như giúp chia sẻ thông tin truy xuất qua lại giữa các hệ thống để kết nối thông tin truy xuất trong chuỗi cung ứng”, ông Bùi Bá Chính cho biết.



Tem truy xuất nguồn gốc trên một sản phẩm. Ảnh: VietQ

Không chỉ vậy, một nhiệm vụ trọng tâm khác cũng đang được Trung tâm Mã số mã vạch Quốc gia đẩy mạnh trong thời gian gần đây, đó là xây dựng và đưa vào vận hành Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm hàng hóa quốc gia. Theo ông Bùi Bá Chính, cổng thông tin này sẽ đóng vai trò là trung tâm của hệ sinh thái truy xuất nguồn gốc, kết nối tất cả các bên trong chuỗi cung ứng từ đơn vị cung cấp nguyên vật liệu đến các đơn vị vận chuyển, lưu kho, phân phối, cũng như các đơn vị cung cấp giải pháp truy xuất nguồn gốc và cơ quan quản lý nhà nước.

Phó giám đốc phụ trách Trung tâm Mã số mã vạch cho hay, có không ít doanh nghiệp gặp phải vấn đề là thông tin truy xuất của một sản phẩm nằm rời rạc ở nhiều đơn vị khác nhau trong chuỗi cung ứng, khiến cho việc kết nối chia sẻ thông tin giữa các bên trở nên vô cùng phức tạp. “Với cổng thông tin truy xuất nguồn gốc hàng hóa quốc gia, tất cả đơn vị trong chuỗi cung ứng sẽ chỉ cần kết nối trực tiếp hoặc gián tiếp với một điểm trung gian duy nhất”, ông Chính nói về ý nghĩa của cổng thông tin này. Dự kiến cổng sẽ được vận hành vào cuối quý IV năm nay.

Trong pha xây dựng đầu tiên, cổng thông tin sẽ tập trung vào các sản phẩm thực phẩm liên quan trực tiếp tới sức khỏe người tiêu dùng như các sản phẩm nông sản. “Việc kết nối chia sẻ dữ liệu cũng sẽ theo các chuẩn chia sẻ kết nối của GS1 để giúp các hệ thống vệ tinh thuận lợi trong việc kết nối với cổng. Các tính năng phục vụ lĩnh vực khác, đặc biệt là lĩnh vực y tế và tài chính sẽ được triển khai trong các năm tiếp theo”, ông Chính cho biết.

Theo mục tiêu của đề án 100, đến năm 2025, cổng thông tin truy xuất nguồn gốc hàng hóa quốc gia sẽ kết nối với 100% hệ thống truy xuất nguồn gốc của các bộ, cơ quan liên quan và ít nhất 70% trong tổng số các đơn vị cung cấp giải pháp tại Việt Nam. Chắc chắn con đường để đạt được mục tiêu mà chính người đứng đầu Trung tâm Mã số Mã vạch Quốc gia cũng đánh giá là “rất tham vọng” này, sẽ không dễ dàng, “nhưng đây là việc rất cần thiết để tạo ra một hệ sinh thái hoàn chỉnh và có hiệu lực trong truy xuất nguồn gốc”, ông nhấn mạnh.

Admin