Bắt đầu xuất khẩu cá nóc
Hoạt động này sẽ đem lại nguồn lợi nhuận đáng kể, giúp hàng nghìn lao động tỉnh Kiên Giang có thêm thu nhập và góp phần chấm dứt việc mua bán cá nóc lén lút
Sau khi được Chính phủ cho phép làm thí điểm, tỉnh Kiên Giang đang tích cực phối hợp với đối tác từ Hàn Quốc để khai thác, chế biến, xuất khẩu cá nóc.
Ở Việt Nam, cá nóc hiện có khoảng 40 loài với trữ lượng ước tính khoảng gần 40.000 tấn. Lâu nay cá nóc chưa được khai thác bằng các ngư cụ chuyên biệt mà chúng thường lẫn trong các mẻ lưới khai thác với số lượng chiếm khoảng 2-6% trong sản lượng hải sản khai thác được. Riêng tại vùng biển Kiên Giang sản lượng cá nóc khai thác được khoảng 6.000 - 10.000 tấn/năm.
Trước kia, toàn bộ cá nóc khai thác được ngư dân bỏ ngay trên biển hoặc đem về đất liền làm thức ăn gia súc, gia cầm, thủy sản hoặc tiêu thụ lén lút với giá thấp. Tuy nhiên, hiện nay nhờ nắm được kỹ thuật tách lọc chất độc ra khỏi cá, biến cá độc thành món ăn cao cấp, các nước như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc đang có nhu cầu nhập khẩu cá nóc với số lượng lớn.
Bà Nguyễn Ngọc Phượng, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Kiên Giang cho biết: Để thực hiện đề án “Thí điểm mở rộng và nâng cao về khai thác, thu mua, chế biến và xuất khẩu cá nóc”, tỉnh Kiên Giang giao cho 2 đơn vị chế biến và xuất khẩu cá nóc; 4 cơ sở thu mua, bảo quản và vận chuyển cá nóc tại cảng cá Khu công nghiệp Tắc Cậu, nằm tại địa phận huyện Châu Thành. Các công ty chế biến chỉ được giao nhận, thực hiện hợp đồng xuất khẩu cá nóc với Công ty Korea poseidon seafood co. ltd (Hàn Quốc).
Ba loại cá nóc được thu mua gồm cá nóc xanh, cá nóc bạc và cá nóc răng mỏ chim với trọng lượng từ 200 - 700g/con. Việc đánh bắt, chế biến cá nóc được phía công ty Hàn Quốc đào tạo huấn luyện bài bản.
Ông Lâm Hoàng Sa, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang khẳng định: “Chính phủ chỉ cho phép thực hiện đề án thí điểm ở 2 tỉnh là Khánh Hòa và Kiên Giang. Đây cũng là điều kiện để tăng thêm thu nhập, tạo việc làm cho ngư dân… Vì vậy, trong quá trình thực hiện cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban, ngành, đoàn thể và các cơ quan thông tin trong và ngoài tỉnh nhằm tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân là chỉ được phép xuất khẩu 3 loại cá nóc theo yêu cầu của nhà nhập khẩu”./.
Doanh nghiệp thứ 8 của cả nước đạt các tiêu chuẩn global GAP và IFS
Công ty TNHH Sài Gòn - Mêkong vừa tổ chức công bố chứng nhận Global GAP (tiêu chuẩn toàn cầu về nuôi cá da trơn) và IFS (tiêu chuẩn thực phẩm bán lẻ toàn cầu).
Như vậy, doanh nghiệp này trở thành doanh nghiệp thứ 8 của cả nước đạt các tiêu chuẩn Global GAP và IFS, đồng thời là nhà sản xuất được Phòng thương mại Hoa Kỳ (USA) công bố lãi suất chống bán phá giá cá tra fillet vào thị trường Mỹ bằng 0%.
Sau hơn 2 năm chính thức đi vào hoạt động, đến nay Công ty TNHH thủy hải sản Sài Gòn - Mêkong đã xây dựng được vùng nuôi khép kín tại Cồn Cò (xã Hưng Mỹ, huyện Châu Thành) và xã Long Đức (thành phố Trà Vinh) với diện tích 30 ha, cho sản lượng khoảng 7.000 tấn sản phẩm; trong đó có 15 ha nuôi của công ty được chứng nhận Global GAP. Doanh nghiệp hiện giải quyết việc làm cho gần 900 lao động với mức thu nhập bình quân 2,5 triệu đồng/tháng.
Từ thành công của Công ty TNHH Sài Gòn - Mêkong, Chi cục nuôi trồng thủy sản thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Trà Vinh đã phối hợp với Phòng Nông nghiệp và PTNT các huyện Cầu Kè, Tiểu Cần, Châu Thành và thị xã Trà Vinh lập hồ sơ đánh mã vạch hàng hóa cho hơn 10 triệu con cá tra thả nuôi xuất khẩu trên diện tích hơn 100 ha mặt nước của hơn 150 doanh nghiệp và hộ gia đình. Chi cục còn hướng dẫn các tổ chức, doanh nghiệp, hộ gia đình nuôi cá tra nguyên liệu phục vụ chế biến xuất khẩu áp dụng theo tiêu chuẩn SQF-1000CM nhằm kiểm tra môi trường nuôi, chất lượng con giống và giảm liều lượng kháng sinh trong quá trình nuôi. Đây là điều kiền tốt để ngành thủy sản Trà Vinh thực hiện việc truy xuất nguồn gốc thủy sản, đảm bảo chất lượng an toàn sạch, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu…
Trà Vinh hiện có khoảng 100 ha mặt nước nuôi cá tra xuất khẩu ven tuyến sông Hậu và sông Tiền, với 118 hộ và doanh nghiệp, đạt sản lượng trên 16.100 tấn, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 4 triệu USD. Theo kế hoạch, đến năm 2015 Trà Vinh sẽ mở rộng diện tích nuôi cá tra xuất khẩu lên 2.900 ha, đến năm 2020 diện tích nuôi được mở rộng 3.900 ha, với sản lượng 248.000 tấn. /.
Mehico - Thị trường tiềm năng cho cá tra Việt Nam
Tính đến cuối tháng 6/2010, đất nước có nền kinh tế lớn thứ hai tại Châu Mỹ Latinh này đã là thị trường nhập khẩu cá tra lớn thứ 5 của Việt Nam sau Mỹ, Tây Ban Nha, Đức và Hà Lan.
Hiện nay, Mehico được đánh giá là thị trường nhập khẩu lớn, ổn định và tiềm năng của cá tra, basa Việt Nam.
Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam (VASEP) cho biết, 6 tháng đầu năm nay, xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang Mehico tăng 37,7% về khối lượng và 27,5% về giá trị so với cùng kỳ năm 2009. Trong đó, tôm và cá tra, basa là hai mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang thị trường này.
6 tháng đầu năm 2010, Mehico đã nhập khẩu trên 17.000 tấn cá tra tương đương 37,33 triệu USD từ Việt Nam. Một số doanh nghiệp xuất khẩu cá tra sang Mehico chia sẻ, nếu trước đây, thị trường này chuộng mặt hàng cá tra philê đông lạnh thì nay họ đang quan tâm đến các sản phẩm thủy sản giá trị gia tăng.
Phương thức thanh toán đơn giản, rõ ràng, khối lượng nhập khẩu tương đối ổn định, giá cả phải chăng, phí vận chuyển trung bình, yêu cầu về chất lượng, kỹ thuật... sản phẩm không quá cao... Chính những lý do này khiến Mehico tạo sức hút đối với các nhà xuất khẩu Việt Nam.
Đến nay, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu cá tra Việt Nam đang chuyển hướng thành công sang thị trường này như: Hung Vuong Corp, Bianfishco, Thimaco, CL-Fish, Navico, Thufico, Bien Dong Seafood, Ocean Food Corp...
Mặc dù, hiện nay, đây là thị trường tương đối “dễ thở” cho cá tra Việt Nam nhưng trong thời gian tới, người dân tại thị trường này đang chú trọng đến chất lượng sản phẩm. Việc kiểm tra chất lượng sản phẩm thủy sản nhập khẩu không quá gắt gao nhưng không đồng nghĩa với việc tùy tiện về chất lượng. Hi vọng, thời gian tới, sản phẩm cá tra sẽ đẹp hơn nữa trong lòng người tiêu dùng Mehico…
Theo báo cáo, tính đến hết tháng 6/2010, Việt Nam chỉ xuất khẩu 45 tấn tôm với tổng trị giá 402.000 USD sang Mehico. Nhiều doanh nghiệp tôm Việt Nam nhận định, những năm gần đây, những quy định nhập khẩu quá khắt khe tại Mehico đã ngăn cản mặt hàng tôm vào thị trường này. Hầu như chính quyền nước sở tại đang làm mọi cách để ngăn cản và kiểm soát gay gắt việc nhập khẩu tôm. Ngay cả việc mang sản phẩm tôm vào Mehico với mục đích triển lãm cũng gặp rất nhiều khó khăn./.
Vào vụ nhưng vẫn thiếu tôm xuất khẩu
Các tỉnh ĐBSCL đã vào vụ thu hoạch tôm công nghiệp, nhưng việc kinh doanh xuất khẩu vẫn không hiệu quả vì thiếu nguyên liệu.
Theo ông Lý Phước An, Giám đốc doanh nghiệp Phú Cường Jostoco, Cà Mau, hiện nay ở các tỉnh ĐBSCL đã vào vụ thu hoạch tôm công nghiệp, tuy nhiên tôm cỡ lớn để xuất khẩu đi Mỹ vẫn không nhiều mặc dù đơn hàng cho loại này kể từ sau sự cố tràn dầu ở vịnh Mehico, Mỹ tăng rõ rệt. Nhà máy chế biến của doanh nghiệp hoạt động chỉ khoảng từ 50 - 60% công suất.
Tình hình thiếu nguyên liệu có phần do việc tôm nuôi ở Sóc Trăng hồi đầu tháng 7 đã bị chết hàng loạt, trong khi đây là tỉnh cung cấp lượng tôm nguyên liệu chính cho các nhà máy chế biến tôm xuất khẩu ở Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cần Thơ.
“Vì thiếu tôm sú cỡ lớn, trong khi đây là mặt hàng tiêu thụ chính ở Mỹ, nên các doanh nghiệp phải cạnh tranh bằng cách đẩy giá lên cao mới có tạm đủ nguồn cung để giữ chân khách hàng trong khi chờ các đợt thu hoạch tôm quảng canh tới. Thực tế này đã làm cho việc kinh doanh thiếu hiệu quả”, ông An nói.
Giá tôm thương phẩm ở ĐBSCL vẫn đang đứng ở mức khá cao, loại 20 con/kg giá 180.000 đồng/kg, 30 con/kg 140.000 đồng/kg. Đối với tôm xuất khẩu, giá xuất khẩu trung bình tôm Việt Nam sang hầu hết các thị trường đều tăng từ 5-10% so với cùng kỳ năm ngoái.
Mặc dù giá tôm xuất khẩu tăng mạnh, chỉ những doanh nghiệp tự túc được nguồn nguyên liệu, nói cách khác là tự túc được chuỗi nuôi trồng, sản xuất, là đạt được lợi nhuận cao, trong khi phần lớn doanh nghiệp hiện nay vẫn chỉ thu mua lại từ nguồn tôm nuôi trong dân.
Theo Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (Vasep), dự báo trong các tháng còn lại, xuất khẩu tôm sang thị trường Mỹ sẽ tiếp tục tăng do nguồn cung cấp từ vịnh Mexico vẫn chưa thể phục hồi hoàn toàn từ sau vụ tràn dầu hồi tháng 4.
Thị trường Nhật Bản với các loại tôm cỡ nhỏ hơn sẽ tiếp tục được doanh nghiệp quan tâm, khi giữ mức tăng trưởng ổn định về giá lẫn số lượng nhập khẩu. Thị trường Mỹ và Nhật Bản hiện chiếm tổng cộng gần 50% kim ngạch xuất khẩu tôm của Việt Nam.
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng tôm trong 7 tháng đầu năm đạt hơn 717 triệu đô la Mỹ, chiếm trên 35% giá trị xuất khẩu của toàn ngành và tăng 22% so với cùng kỳ.
Nam 2010 xuất khẩu cao su sẽ đạt 1,3-1,5 tỉ đô la
Theo bà Trần Thị Thúy Hoa, Tổng thư ký Hiệp hội Cao su Việt Nam (VRA), năm nay giá trị xuất khẩu cao su sẽ đạt 1,3-1,5 tỉ đô la Mỹ nếu giá cao su vẫn ở mức cao, trên 3.000 đô la Mỹ/tấn như hiện nay
Bà Hoa cho biết, trong mấy tháng trở lại đây, giá cao su trên thị trường thế giới luôn ở mức cao, trên 3.000 đô la Mỹ/tấn. Tính đến ngày 9-8, giá cao su đã tăng trở lại sau khi có xu hướng giảm giá nhẹ vào cuối tháng 7. Cụ thể, giá cao su SVR là 3.038 đô la Mỹ/tấn.
Bà Hoa cũng cho rằng, trong những tháng cuối năm sản lượng cao su của Việt Nam sẽ tăng (theo chu kỳ cho mủ của cây cao su) và sẽ tác động phần nào đến giá cao su trên thị trường thế giới, nhưng về cơ bản giá vẫn ở mức cao vì Trung Quốc, châu Âu, Bắc Mỹ nhu cầu sử dụng cao su cho những ngành kinh tế như sản xuất lốp xe đang tăng mạnh nhờ kinh tế thế giới hồi phục.
Hiện Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu cao su chủ yếu của Việt Nam với khoảng 60% số lượng cao su thiên nhiên mỗi năm.
Trong 7 tháng đầu năm, Việt Nam đã xuất khẩu 336.000 tấn, đạt kim ngạch 483 triệu đô la Mỹ, giảm 3,4% về lượng nhưng lại tăng 85% giá trị.
Theo VRA, dự kiến năm nay Việt Nam sẽ xuất khẩu 680.000 tấn, chiếm 88% tổng sản lượng cao su của cả năm.
Sản lượng cà phê niên vụ 2010/11 của Việt Nam có thể tăng 6,9%
Theo Hiệp hội Cà phê và Ca cao Việt Nam (VICOFA), sản lượng cà phê của Việt Nam sẽ ở mức ổn định khoảng 1 triệu tấn/năm với 500 nghìn ha diện tích.
Tuy chưa bước vào vụ thu hoạch của cà phê Việt Nam nhưng Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) dự báo sản lượng cà phê niên vụ 2010/11 của nước ta có thể tăng 6,9% lên 18,7 triệu bao, tương đương với mức dự báo của các tháng trước đây, theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Trong đó sản lượng cà phê Robusta đạt 18 triệu bao và sản lượng cà phê Arabica đạt 0,4 triệu bao, cao hơn dự báo của Fortis Bank Nederland là 18,4 triệu bao.
Vụ thu hoạch cà phê 2010/11 đã bắt đầu ở một số quốc gia bao gồm Braxin, Indonexia, Papua New Guinea và Peru. Theo ước tính của Tổ chức Cà phê thế giới (ICO), tổng sản lượng cà phê toàn cầu trong niên vụ này sẽ đạt mức 133-135 triệu bao. Thu hoạch của Braxin diễn ra thuận lợi nhờ thời tiết nắng và dự báo sản lượng đạt khoảng 50 triệu bao trong khi sản lượng của Colombia dự kiến đạt 10-11 triệu bao. Sản lượng tại Ấn Độ và Ethiopia dự tính đạt mức 5 triệu bao.
Niên vụ cà phê 2009/10 đã kết thúc ở hầu hết các nước sản xuất cà phê lớn trên thế giới. Theo ước tính của ICO, tổng sản lượng cà phê toàn cầu niên vụ này đạt mức 120,6 triệu bao, giảm 5,8% so với sản lượng niên vụ 2008/09.
Thị trường xuất khẩu hạt tiêu 6 tháng đầu năm 2010
Lượng hạt tiêu xuất khẩu của cả nước trong 6 tháng đầu năm là 71.624 tấn, đạt kim ngạch trên 224 triệu USD (tăng 4,8% về lượng, tăng 41,8% về kim ngạch so với 6 tháng đầu năm 2009 và đạt 55% kế hoạch năm 2010). Trong đó, lượng hạt tiêu xuất khẩu của riêng tháng 6/2010 là 12.046 tấn, đạt gần 40 triệu USD (giảm 20,4% về lượng và giảm 19,2% về kimngạch so với tháng 5/2010).
Trong số 24 thị trường chủ yếu của xuất khẩu hạt tiêu trong 6 tháng đầu năm, thì Hoa Kỳ vẫn là thị trường dần đầu về kimngạch với 33 triệu USD, chiếm 14,7% tổng kim ngạch; đứng thứ 2 là thị trường Đức với 29,6 triệu USD, chiếm 13,2%; thứ 3 là thị trường Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất 16 triệu USD, chiếm 7,2%.
6 tháng đầu năm, có 7/24 thị trường xuất khẩu hạt tiêu bị sụt giảm kim ngạch so với cùng kỳ, còn lại 17/24 thị trường đạt mức tăng trưởng dương về kim ngạch xuất khẩu; trong đó xuất khẩu sang Đức đạt mức tăng trưởng lớn nhất gần 107% so với cùng kỳ, xếp thứ 2 về mức tăng trưởng là thị trường Australia (+98,4%); và một số thị trường tăng trưởng trên 50% như: Hàn Quốc (+97,5%); Bỉ (+82%); Ấn Độ (+81%); Hoa Kỳ (+79,5%); Anh (+76%); Canada (+60,4%); Nga (+54,8%); Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (+51%). Ngược lại, có 7 thị trường bị giảm kim ngạch so với cùng kỳ là: Tây Ban Nha (-22,55%); Nhật Bản (-20,10%); Singapore (-18,12%); Ai Cập (-14,87%); Nam Phi (-11,63%); Italia (-10,90%); Pakistan (-3,78%).
Tính riêng tháng 6/2010 thì đa số các thị trường đều giảm kimngạch so với tháng 5/2010, chỉ có 9 thị trường đạt mức tăng so với tháng 5; trong đó thị trường Đức dẫn đầu với (+211,81%); tiếp đến Nga (+103,45%); Hàn Quốc (+67,48%); Ucraina (+53,21%); Ai Cập (+48,39%); Nhật Bản (+43,33%); Pháp (+4,22%); Thổ Nhĩ Kỳ (+34,47%); Italia (+19,41%). Tuy nhiên, có một số thị trường giảm mạnh trên 40% so với cùng kỳ là: Philippines (-84,3%); Pakistan (-62,08%); Hà Lan (-46,53%); Ấn Độ (-42,4%).
Xuất khẩu nhân hạt điều đạt kim ngạch hơn 528 triệu USD
Thị trường xuất nhập khẩu hạt điều những tháng đầu năm có nhiều khởi sắc, các doanh nghiệp trong nước đang đẩy mạnh thu mua phục vụ cho xuất khẩu nhưng tháng cuối năm.
Hiệp hội Ðiều Việt Nam cho biết, trong 7 tháng đầu năm, các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu hạt điều trong nước đã mua 417 tấn hạt điều nguyên liệu (mua trong nước 300.000 tấn và nhập khẩu 117.000 tấn), chế biến và xuất khẩu hơn 98.000 tấn nhân điều, đạt kim ngạch hơn 528 triệu USD. Ðể bảo đảm việc làm cho 150.000 lao động đến niên vụ điều 2010 - 2011, các cơ sở, doanh nghiệp đề nghị các ngân hàng cho vay 1.100 tỷ đồng và 300 triệu USD nhằm mua hết 50.000 tấn điều tồn đọng trong dân./.
Mục tiêu 2015 xuất khẩu 50.000 tấn dầu thực vật các loại
Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành Dầu thực vật Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025.
Theo đó, ngành Dầu thực vật được phê duyệt phát triển trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh của từng vùng, từng địa phương, phát huy năng lực chế biến sẵn có và sử dụng có hiệu quả nguyên liệu trong nước và nhập khẩu; chú trọng đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường sinh thái trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Mục tiêu cụ thể trong giai đoạn 2011-2015 giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành tăng bình quân từ 17,37%/năm. Đến năm 2015, sản xuất 1,138 triệu tấn dầu tinh luyện, 268.000 tấn dầu thô, xuất khẩu 50.000 tấn dầu các loại.
Giai đoạn 2016-2020 giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành tăng bình quân từ 7,11%/năm. Đến năm 2020, sản xuất 1,587 triệu tấn dầu tinh luyện, 370.000 tấn dầu thô, xuất khẩu đạt 80.000 tấn dầu các loại.
Giai đoạn 2021-2025 giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành tăng bình quân từ 3,69%/năm. Đến năm 2025, sản xuất và tiêu thụ 1,929 triệu tấn dầu tinh luyện, 439.000 tấn dầu thô, xuất khẩu đạt 100.000 tấn dầu các loại.
Phát triển Ngành trên cơ sở áp dụng công nghệ, thiết bị tiên tiến, không ngừng đổi mới và cải tiến công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm, nghiên cứu sản xuất sản phẩm mới với chất lượng cao và đa dạng để đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu, bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường sinh thái; tập trung xây dựng một số thương hiệu sản phẩm dầu trong nước mạnh để cạnh tranh hiệu quả trong hội nhập kinh tế quốc tế.
Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh phát triển nguyên liệu trong nước nhằm từng bước thay thế nhập khẩu, giảm nhập siêu, thực hiện mục tiêu công nhgiệp hoá nông nghiệp và nông thôn, góp phần xoá đói, giảm nghèo. Mục tiêu chung là từng bước xây dựng và phát triển Ngành Dầu thực vật đồng bộ từ sản xuất nguyên liệu đến chế biến sản phẩm cuối cùng; tăng tỷ trọng nguyên liệu trong nước để sản xuất dầu ăn (dầu tinh luyện và dầu thô) và cung cấp sản phẩm cho ngành chế biến khác.
XK giày dép trên đà hồi phục
Mặc dù vẫn gặp nhiều khó khăn, từ thuế chống bán phá giá đến thiếu hụt nhân công, nhưng xuất khẩu giày dép của Việt Nam những tháng gần đây đang có mức tăng khá so với cùng kỳ.
Bộ Công thương cho biết, xuất khẩu các sản phẩm giày dép, đang trên đà hồi phục mạnh trong những tháng gần đây, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành trong 7 tháng qua đạt 2,750 tỷ USD, tăng 13,8% so với cùng kỳ.Riêng xuất khẩu các sản phẩm cặp, túi xách, ví, vali, ô dù đạt gần 550 triệu USD, tăng trên 20% so với cùng kỳ năm 2009.
Điều đáng nói là kết quả này đạt được trong bối cảnh mặt hàng giày mũ da xuất khẩu vẫn đang chịu thuế chống bán phá giá 10% khi xuất khẩu sang thị trường Liên minh Châu Âu (EU), cộng thêm việc ngành không được hưởng cơ chế ưu đãi thuế quan phổ cập dành cho các nước đang phát triển (GSP) khi xuất khẩu vào thị trường này.
Trong số các thị trường xuất khẩu chủ lực của ngành da giày, thị trường EU chiếm gần 60% tổng kim ngạch xuất khẩu. Bởi vậy, những rào cản kỹ thuật được EU dựng lên đã tác động đáng kể đến hoạt động sản xuất và xuất khẩu của các doanh nghiệp trong ngành. Nhất là một số thị trường EU như Hy Lạp, Bồ Đào Nha đang bị khủng hoảng nợ công. EU cũng áp dụng quy định về hoá chất (Reach) và yêu cầu các nhà sản xuất phải thực thi nghiêm ngặt quy định này. Tuy vậy, với sự nỗ lực của các doanh nghiệp, 7 tháng qua, kim ngạch xuất khẩu vào thị trường này vẫn duy trì được ở mức tăng 10% so với cùng kỳ.
Điểm nhấn quan trọng nhất trong 7 tháng qua là kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Mỹ có mức tăng khá cao, xấp xỉ 16% so với cùng kỳ, đạt gần 700 triệu USD. Mỹ là thị trường lớn thứ hai sau EU, chiếm 25% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành da giày Việt Nam
Bà Nguyễn Thị Tòng, Phó chủ tịch Hiệp hội Da giày Việt Nam (Lefaso) cho rằng, trong bối cảnh thị trường truyền thống EU dựng lên nhiều rào cản thương mại mới, việc tăng xuất khẩu giày dép vào Mỹ được xem là một tín hiệu đáng mừng. Hiện Mỹ đang phải nhập khẩu hơn 90% giày dép các loại để tiêu thụ tại thị trường nội địa, chủ yếu từ các nước Châu Á. Các doanh nghiệp nên tận dụng những điều kiện thuận lợi của thị trường Mỹ để tiếp tục gia tăng xuất khẩu vào thị trường này trong thời gian tới.
Bà Tòng cũng cho biết thêm, 13% doanh nghiệp đang xuất hàng đi Mỹ trên tổng số gần 600 doanh nghiệp trong ngành là con số quá khiêm tốn, cần phải mở rộng hơn nữa số lượng doanh nghiệp xuất hàng đi Mỹ, bởi nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm giày dép tại thị trường này từ Việt Nam đang tăng khá mạnh trong những năm gần đây.
Thống kê của Bộ Công thương cho thấy, năm 2006, kim ngạch xuất khẩu giầy dép của Việt
Nam sang Mỹ đạt 802,0 triệu USD, tăng 31% so với năm 2005, chiếm 22% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành. Năm 2008, xuất khẩu vào Mỹ đạt 1,075 tỷ USD, tăng 22,2% so với năm 2007, chiếm 22,5% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng giầy dép của Việt Nam và năm 2009 đã tăng lên 1,2 tỷ USD.
Trong thời gian tới, thị trường Mỹ vẫn là thị trường tiềm năng và tiếp tục gia tăng mạnh, tuy nhiên, để xâm nhập vào kênh phân phối và đáp ứng các yêu cầu của khách hàng tại thị trường này đòi hỏi các doanh nghiệp phải băt năm đầy đủ thông tin, lựa chọn đối tác tin cậy và thực hiện tốt các yêu cầu về trách nhiệm xã hội.
Năm 2010, ngành da giày đặt mục tiêu xuất khẩu đạt 4,7 tỷ USD, tăng 13% so với năm 2009. Nếu giữ được tốc độ xuất khẩu như hiện nay, Lefaso dự báo, nhiều khả năng ngành sẽ về đích đúng hẹn. Tuy nhiên, cũng giống như ngành dệt may, tại thời điểm này, dù đơn hàng xuất khẩu khá dồi dào nhưng khó khăn lớn nhất với các doanh nghiệp là vấn đề thiếu lao động.
Theo phản ánh của Lefaso, trung bình các doanh nghiệp trong ngành đang thiếu hụt khoảng 10% lao động. Đối với những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và liên doanh, đang nắm giữ trên 65% kim ngạch xuất khẩu của ngành như Pou Yuen, Pou Chen (Đài Loan), Shang Hung Cheng, Tea Kuang Vina (Hàn Quốc)… có quy mô từ vài chục ngàn đến hàng trăm ngàn lao động thì việc thiếu hụt khoảng 10% lao động là cả một vấn đề không nhỏ. Nếu không có giải pháp điều động lao động hài hoà và phù hợp, trong bối cảnh khó tuyển thêm lao động mới thì khả năng bị ảnh hưởng đến xuất khẩu là khó tránh khỏi.
TT TT CN & TM