Nhập từ khóa...Tìm kiếm
Tin Ngoài tỉnh
Xuất Nhập khẩu 24/8/2010 
24/08/2010 
 

    Giá thu mua cá basa tăng đến 24.000 đồng/kg

    Với mức giá trên, giá cá basa hiện đã cao hơn giá cá tra hầm 8.000 đồng/kg và cao hơn giá thành sản xuất (khoảng 15.000 đồng/kg) 9.000 đồng/kg.

    Giá cá basa bán tại bè ở khu vực thị xã Châu Đốc và các huyện An Phú, Tân Châu (An Giang) đã lên đến 24.000 đồng/kg nhưng thương lái vẫn săn lùng ráo riết.

    Ông Lê Văn Thủ, chủ một bè cá ở Tân Châu, cho biết nhu cầu tiêu thụ cá basa ở thị trường nội địa đang rất cao trong khi nguồn cung ứng lại không đủ. Với mức giá trên, giá cá basa hiện đã cao hơn giá cá tra hầm 8.000 đồng/kg và cao hơn giá thành sản xuất (khoảng 15.000 đồng/kg) 9.000 đồng/kg.

 

    Ngành cá tra 2010: Những tín hiệu lạc quan

    

    Hơn nửa năm 2010 trôi qua ngành thủy sản nói chung và cá tra nói riêng đang dần hồi phục với một số tín hiệu lạc quan về mặt kim ngạch xuất khẩu.

    Theo thống kê sơ bộ từ Tổng cục Hải quan, giá trị xuất khẩu thủy sản chính ngạch của cả nước trong 6 tháng đầu năm 2010 đạt hơn 2 tỷ USD, tăng 17% so với cùng kỳ năm 2009. Ngành cá tra cũng có sự hồi phục tốt khi xuất khẩu 304,3 nghìn tấn cá tra, ba sa đạt kim ngạch 652,7 triệu USD trong 6 tháng đầu năm nay, tăng 14,3% về khối lượng và 7,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2009.

     So với các năm trước, tốc độ tăng trưởng này chỉ được xem là vừa phải. Tuy nhiên, so với năm 2009, khi ngành tăng trưởng âm, những kết quả đạt được trong 6 tháng đầu năm có thể coi là khả quan.

Bên cạnh việc diễn biến tỷ giá hiện nay đang có lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu thị trường xuất khẩu cũng có chuyển biến tích cực cho ngành cá tra.

     Tại thị trường Mỹ, mặt dù mặt hàng cá tra bị áp thuế chống phá giá nhưng tốc độ tăng trưởng tại thị trường này vẫn duy trì ở mức cao, trong 6 tháng đầu năm giá trị xuất khẩu đạt 65,5 triệu USD, tăng 10% so với cùng kỳ năm 2009. Thêm vào đó, thị trường Nga đã mở cửa trở lại.

     Theo thông tin từ Ban điều hành xuất khẩu thủy sản vào Nga, 7 tháng đầu năm nay, xuất khẩu cá tra, cá ba sa vào thị trường này đạt 20.295 tấn (gần 35 triệu USD), tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước. Mục tiêu xuất khẩu 100 triệu USD vào thị trường Nga trong năm nay được kỳ vọng cao là có thể đạt được.

     Tuy nhiên, tình hình không phải hoàn toàn thuận lợi trong năm nay vì ngành cũng phải đối mặt với một số khó khăn ngắn hạn. Khủng hoảng nợ tại Châu Âu cũng như sự mất giá của đồng EURO so với USD đã khiến cho nhu cầu tiêu dùng tại thị trường này - thị trường có tỷ trọng lớn nhất - bị chững lại trong quý II, các đơn hàng xuất khẩu từ Việt Nam trở nên kém cạnh tranh hơn.

     Đối với thị trường Mỹ, vẫn còn lơ lửng một vấn đề, đó là Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) đề xuất đưa cá tra vào quản lý theo Luật FarmBill. Nếu được phê chuẩn, cá tra sẽ phải chịu chế độ kiểm tra chất lượng nghiêm ngặt hơn, khiến nhiều doanh nghiệp sẽ phải chịu chi phí tuân thủ cao và tốn nhiều thời gian vì phải xây dựng lại hệ thống kiểm tra chất lượng từ đầu theo các tiêu chuẩn mới này.

     Hiện nay, Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) và các doanh nghiệp lớn đang cố gắng vận động hành lang, thực hiện các chiến dịch PR để quảng bá chất lượng sản phẩm nhằm tránh việc sản phẩm cá tra “rơi” vào “khái niệm catfish” và bị quản lý bởi FarmBill.

     Theo tính mùa vụ, xuất khẩu thủy sản nói chung và cá tra nói riêng sẽ tăng mạnh hơn từ tháng 8 đến cuối năm. Xét tình hình hồi phục của các thị trường và diễn biến giá cá tra xuất khẩu, có thể dự đoán chung là ngành sẽ phục hồi với tốc độ nhẹ trong năm nay.

     Theo Trung tâm Tin học - Thống kê (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), ước tính khối lượng cá tra xuất khẩu đạt khoảng 660 ngàn tấn, tương đương 1,4 tỷ USD, tăng khoảng 4,5% so với năm 2009.

 Các doanh nghiệp trong ngành sẽ có sự phân hóa về kết quả hoạt động kinh doanh. Những doanh nghiệp có nền tảng tốt, đảm bảo chất lượng sản phẩm theo các điều kiện ngày càng nghiêm ngặt sẽ duy trì được tăng trưởng dương và tốt hơn so với ngành.

     Theo thống kê 6 tháng đầu năm 2010 của VASEP, các doanh nghiệp trong ngành chế biến và xuất khẩu cá tra cá ba sa đã có sự thay đổi vị trí. VHC từ vị trí thứ 2 đã vươn lên dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu với 55.3 triệu USD. HVG xếp ngay sau đó với kim ngạch xuất khẩu 47,3 triệu USD. Kế đến là các doanh nghiệp như AGF, NAVICO...

     Trong số các công ty cá tra niêm yết trên sàn, VHC và ACL là hai cổ phiếu có chỉ số tài chính tốt, hội tụ đủ các yếu tố mà các nhà đầu tư quan tâm.

 

    Cà phê Tây Nguyên:  Lại đối mặt với mất mùa, mất giá? 


    Tháng 8 là thời điểm cây càphê Tây Nguyên nuôi quả non. Năng suất càphê sẽ như thế nào thì gần như đây là giai đoạn quyết định. Thế nhưng, hiện tượng rụng quả đang phổ biến ở hầu khắp Tây Nguyên hiện nay khiến cho không ít hộ dân lo lắng.

    Thêm vào đó, giá cà phê lại không mấy hấp dẫn ảnh hưởng không tốt tới tâm lý của nông dân. Đã có không ít người trồng cà phê nản chí bỏ mặc vườn cây trong thời gian dài. Cây cà phê không được chăm sóc đúng mức lại càng khiến nạn rụng quả non càng trở nên nghiêm trọng. Cà phê Tây Nguyên lại một lần nữa đối mặt với thảm cảnh mất mùa, mất giá.

    Phổ biến hiện tượng rụng quả non

    Tại Lâm Hà (Lâm Đồng), GĐ Cty càphê Thái Hòa Lâm Đồng – ông Lê Quang Đạo – lo lắng: “Thái Hòa gần đây đã kiên trì với chương trình càphê sạch bằng cách thu hút nông dân (khoảng 5.000 hộ) sản xuất càphê chứng chỉ UTZ và 4C, nhưng hiện tượng “rụng quả” bởi nhiều lý do trên cây càphê đang thời kỳ nuôi quả non quả là điều đáng lo ngại”.

    Tại Di Linh - vựa càphê trọng điểm của Lâm Đồng - nhiều hộ nông dân trồng càphê đang phải đối mặt với những khó khăn bởi nạn sâu “lạ” tấn công lá càphê từ vài tháng trước, đang để lại di chứng nặng nề: “Cây không phát triển bình thường, đến lúc cho quả thì không đồng đều; đặc biệt là nhiều vườn cây xuất hiện hiện tượng rụng quả non một cách bất thường, chắc chắn năng suất sẽ rất thấp” – ông Nguyễn Hữu Phần - một nông dân trồng càphê nhiều kinh nghiệm ở Di Linh, than phiền.

Vị thế càphê Tây Nguyên sẽ sa sút

    Lãnh đạo Sở NNPTNT Lâm Đồng cho biết, đối với tỉnh này, càphê là mặt hàng nông sản có giá trị cao trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh (chiếm gần 60% GDP). Mỗi năm, Lâm Đồng sản xuất xấp xỉ 300.000 tấn càphê nhân - chiếm gần 30% sản lượng càphê của cả nước. Nhìn rộng ra toàn vùng thì cả Tây Nguyên có đến 470.000ha càphê (trong tổng diện tích khoảng 500.000ha của cả nước). Vài năm gần đây, với sản lượng càphê trên 900.000 tấn và xuất khẩu đạt hơn 1 tỉ USD/năm, Việt Nam đã vươn lên vị trí thứ nhì của thế giới về xuất khẩu càphê (chỉ đứng sau Brazil). Dẫn ra một vài con số như thế để thấy được tầm quan trọng của cây càphê các tỉnh Tây Nguyên trong “bản đồ” càphê Việt Nam và cả “bản đồ” càphê thế giới như thế nào. Bởi vậy, sự xuống cấp của cây càphê cho dù vì bất kỳ lý do nào thì sự ảnh hưởng của nó cũng rất nặng nề trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp của cả vùng Tây Nguyên và không chỉ Tây Nguyên.

Cà phê Tây Nguyên trong những ngày gần đây còn bị tác động không nhỏ từ vấn đề giá cả. Niên vụ vừa qua, sự thay đổi liên tục về giá càphê nhân trên thị trường (lúc tăng - đạt khoảng 35.000 – 39.000 đồng; lúc thấp - chỉ còn không đến 20.000 đồng/kg; và thường là “đứng lâu” ở mức thấp, chỉ khoảng 25.000 đồng/kg) khiến cho không ít hộ nông dân tỏ ra chán nản, không còn quá mặn mà với loại cây trồng này như trước đây. Rồi nữa, theo một dự báo: Giá càphê sẽ tiếp tục bị kéo xuống (hiện đang dao động ở mức 28.000 – 30.000 đồng/kg) khi hai quốc gia khá hùng mạnh về càphê là Brazil và Colombia đang bắt đầu vào vụ thu hoạch mới trong năm nay.

    Như vậy, rất có thể càphê VN nói chung và Tây Nguyên nói riêng sẽ còn phải đối mặt với khó khăn của thị trường thế giới trong những ngày tới. Trong khi đó, theo mùa vụ thì càphê Tây Nguyên đang trong thời kỳ nuôi quả non nhưng gặp phải nạn sâu bệnh, ấu trùng ve sầu, rụng quả non...; trong khi sự đầu tư của người dân chưa thật đúng mức thì đây hẳn là điều đáng lo ngại và cần báo động về một niên vụ trước mắt sẽ mất mùa và mất cả giá.

 

    Xuất khẩu cao su: Tăng mạnh, nhưng vẫn lo

    Tình hình xuất khẩu cao su của Việt Nam đang có những tín hiệu khả quan, so với cùng kỳ năm 2009, về lượng đã tăng 2,3% và trị giá tăng tới 92,4%.

    Sang tuần đầu tháng 8/2010, giá cao su thiên nhiên đang tăng so với tháng 7/2010 do các nhà nhập khẩu Trung Quốc đã quay lại thị trường tìm nguồn cung sau thời gian giảm nhập khẩu trong tháng 5 và 6/2010, đồng thời nhiều thị trường khác cũng gia tăng lượng cao su nhập khẩu như Malaysia, Hàn Quốc, Đài Loan, Ấn Độ...

    Trong khi đó, nguồn cung từ các nước như Thái Lan, Malaysia, Indonesia và Việt Nam đều tăng chậm do thời tiết không thuận lợi. Kể từ tháng 6/2009, giá cao su đã tăng liên tục và chạm mức kỷ lục 410 USD/tấn vào tháng 4/2010. Nhưng vào đầu tháng 5/2010, giá cao su đột ngột giảm mạnh cho đến giữa tháng 6/2010 thì mới đổi chiều tăng trở lại. 
    Bà Trần Thị Thúy Hoa, Tổng thư ký Hiệp hội Cao su Việt Nam cho biết, xuất khẩu cao su của Việt Nam đã giảm đáng kể về lượng và giảm cả về giá trong tháng 4 và 5/2010 do đó là thời điểm cao su bắt đầu vào vụ khai thác, cộng với yếu tố thời tiết không thuận lợi. 
    Một nguyên nhân chính nữa là do Trung Quốc – đối tác nhập khẩu cao su lớn nhất của Việt Nam, chiếm tới 60% thị phần xuất khẩu – có chính sách hạn chế và kiểm soát xuất khẩu mậu biên, đồng thời cũng bán ra lượng cao su tồn kho.

    Sang tháng 6 và 7/2010, xuất khẩu cao su đã phục hồi trở lại. Theo số liệu thống kê của Bộ Công Thương, trong tháng 7/2010, xuất khẩu cao su thiên nhiên của Việt Nam đạt khoảng 85 ngàn tấn, trị giá 237 triệu USD, tăng 46,7% về lượng và tăng 44,5% về trị giá so với tháng 6/2010. Nếu so với cùng kỳ năm 2009, lượng xuất khẩu đã tăng 2,3% và trị giá tăng tới 92,4%.

    Như vậy, tính chung 7 tháng đầu năm, lượng cao su thiên nhiên xuất khẩu đạt khoảng 324 ngàn tấn, trị giá 893 triệu USD. Mặc dù có sự giảm nhẹ về lượng khoảng 3,4% nhưng tăng cao về trị giá, khoảng 85% so với cùng kỳ năm trước.

    Trước những diễn biến này, Hiệp hội Cao su Việt Nam nhận định, xuất khẩu cao su nguyên liệu năm nay sẽ đạt được kế hoạch đề ra. Dự báo, với sản lượng cao su cả nước năm 2010 ước đạt 770 nghìn tấn mủ, tăng 6,4% so với năm 2009, kim ngạch xuất khẩu cao su của Việt Nam năm 2010 có thể đạt gần 1,5 tỷ USD, tăng khoảng 22,3% so với năm 2009.

    Tuy nhiên, bà Trần Thị Thúy Hoa chia sẻ rằng các doanh nghiệp trong ngành vẫn rất băn khoăn, chưa yên tâm về chính sách mậu biên của Trung Quốc, trong khi xuất khẩu cao su của Việt Nam sang Trung Quốc theo đường mậu biên chiếm tới 80% tổng lượng cao su của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường này.

Để có thể giảm thiểu những tác động do chính sách mậu biên của Trung Quốc thay đổi khó lường, một mặt, Hiệp hội Cao su Việt Nam đã khuyến cáo các doanh nghiệp trong ngành chủ động tăng cường chất lượng cao su để gia tăng việc xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc cũng như mở rộng xuất khẩu sang các thị trường khác như châu Âu, châu Mỹ và các nước châu Á khác. Những thị trường đang tăng nhập khẩu cao su Việt Nam là Malaysia, Đài Loan, Hàn Quốc, Đức, Hoa Kỳ, Nga, Ấn Độ...

    Nhưng mặt khác, Hiệp hội cao su Việt Nam cũng đề xuất với các cơ quan hữu quan của Bộ Công Thương cũng như các Thương vụ của Việt Nam tại Trung Quốc có những thông tin và thông báo kịp thời cho các doanh nghiệp Việt Nam về tình hình chính sách mậu biên của Trung Quốc để doanh nghiệp có những giải pháp ứng phó kịp thời.

    Đáng chú ý là bên cạnh cao su nguyên liệu, xuất khẩu sản phẩm cao su của Việt Nam cũng đang có những tăng trưởng đáng kể. Trong 7 tháng đầu năm 2010, xuất khẩu sản phẩm cao su đã đạt 145 triệu USD, tăng khoảng 87% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, riêng giá trị của mặt hàng lốp xe xuất khẩu chiếm khoảng 70 – 80% tổng giá trị của sản phẩm cao su xuất khẩu.

    Vấn đề đáng lưu tâm nữa là tình hình nhập khẩu các sản phẩm cao su của Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2010 tuy có gia tăng, nhưng chỉ tăng khoảng 24,3% so với cùng kỳ năm trước.
Điều này có nghĩa là việc nhập siêu đối với sản phẩm cao su đã giảm đáng kể so với các năm trước, đồng thời cho thấy năng lực sản xuất của sản phẩm cao su trong nước đã tăng trưởng. Tuy nhiên, để đánh giá năng lực của ngành sản phẩm cao su, Hiệp hội Cao su Việt Nam cho rằng các cơ quan hữu quan cần có những số liệu thống kê cụ thể. 
    Do phía hải quan đã bóc tách được số liệu xuất khẩu sản phẩm cao su, nên tới đây, trong phần đánh giá các sản phẩm công nghiệp sản xuất trong nước, Bộ Công Thương nên có những số liệu đánh giá riêng về vấn đề sản xuất các sản phẩm cao su, đặc biệt là sản xuất săm lốp cao su đang có những bước tiến triển rất tốt, để khuyến khích phát triển ngành này. Bên cạnh cao su nguyên liệu và sản phẩm cao su, còn có một mặt hàng là gỗ cao su xuất khẩu cũng đã có tăng trưởng đáng kể trong những tháng đầu năm 2010.

 

    Thiếu 150.000 tấn điều thô

    Từ nay cho đến cuối năm 2010, dự kiến các DN chế biến - xuất khẩu nhân điều VN sẽ thiếu khoảng 150.000 tấn điều thô các loại.

    Ngày 15.8, Hiệp hội Điều VN (Vinacas) báo động: Từ nay cho đến cuối năm 2010, dự kiến các DN chế biến - xuất khẩu nhân điều VN sẽ thiếu khoảng 150.000 tấn điều thô các loại.

    Nguyên nhân khan hiếm là do sản lượng điều trên thế giới giảm mạnh khoảng 20%. Việc cạnh tranh thu mua nguyên liệu giữa các quốc gia rất quyết liệt. Do đó, mức giá điều thô bị đẩy tăng 30% so với cùng kỳ năm 2009 (khoảng 1.000USD/tấn).

    Trong lúc đó, giá xuất khẩu điều nhân của thế giới hiện đang rất tốt, khoảng 6.600USD/tấn, cao hơn 500USD/tấn so với cuối năm 2009. Theo Vinacas, giá xuất khẩu tốt, nhưng không có điều nhân để xuất là rất đáng tiếc cho các DN xuất khẩu điều VN.

 

    Triển vọng xuất khẩu trái cây 6 tháng cuối năm 2010

    

      Kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam tháng 6/2010 đạt 41 triệu USD, tăng 61,3% so với tháng 5/2010, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam 6 tháng đầu năm đạt 222 triệu USD, tăng 6% so với cùng kỳ năm 2009, chiếm 0,7% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của cả nước 6 tháng đầu năm 2010.

    Theo Bộ NN&PTNT, diện tích cây ăn quả trong năm 2010 ước đạt 800 nghìn ha, tăng 10.000 ha so với năm 2009. Trong những năm qua, diện tích canh tác không ngừng tăng lên. Năm 2009 đạt 790 ngàn ha (so với năm 2008 tăng thêm 15 nghìn ha, so với năm 2007 tăng 11,5 nghìn ha. Tốc độ tăng bình quân 2%/năm). Sản lượng mỗi năm ước đạt 7-8 triệu tấn, trong đó có nhiều loại ngon như: nhãn lồng Hưng Yên, vải thiều, sầu riêng sữa hạt lép, xoài cát Hòa Lộc, bưởi Năm Roi, bưởi da xanh, thanh long…

    Các thị trường xuất khẩu chính mặt hàng rau quả của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2010 là Trung Quốc, chiếm 11,4% trong tổng kim ngạch, đạt 25,4 triệu USD, dự báo xuất khẩu trái cây sang thị trường Trung Quốc trong những tháng cuối năm 2010 sẽ tiếp tục tăng; Nhật Bản chiếm 7,5% trong tổng kim ngạch đạt 16,8 triệu USD; Hà Lan chiếm 7% trong tổng kim ngạch đạt 15,7 triệu USD…

    Hiện nay đang nhiều loại trái cây ngon và đặc trưng trong nước bước vào vụ thu hoạch rộ, nhiều đối tác nhập khẩu đã sang tìm hiểu và đặt hàng với lượng lớn. Do đó, kim ngạch xuất khẩu trái cây cũng sẽ tăng mạnh. Xuất khẩu trái caay đã liên tục tăng trong nửa cuối năm 2009, xu hướng này sẽ diễn ra trong những tháng cuối năm 2010.Xuất khẩu trái cây sang những thị trường truyền thống cũng không ngừng tăng lên.

    Theo danh sách của Tổng cục Kiểm định và giám sát chất lượng Trung Quốc công bố, Việt Nam được phép xuất khẩu 8 chủng loại trái cây vào Trung Quốc gồm: Xoài, nhãn, chuối, vải, dưa hấu,chôm chôm, mít, thanh long. Vừa qua, hai hiệp hội trái cây của hai tỉnh Quảng Tây và Quảng Đông (Trung quốc) sang Việt Nam tham gia mong muốn khảo sát thị trường cũng như tìm đối tác tại Việt Nam. Hội trưởng Hiệp hội trái cây tỉnh Quảng Tây cho biết tổ chức của ông sẽ ký kết hợp tác với một số các nhà vườn Việt Nam, trước mắt là với các nhà vườn của tỉnh Tiền Giang để nhập khẩu trái cây.

    Thái Lan là nước chuyên xuất khẩu trái cây nhưng nhu cầu nhập khẩu những loại trái cây đặc sản, chất lượng cao của họ cũng khá lớn. Trong 5 tháng đầu năm 2010, xuất khẩu thanh long ruột đỏ đặc sản của Việt Nam sang Thái Lan tăng rất mạnh. Ngoài Thanh long ruột đỏ, còn có dừa khô lột vỏ và chanh dây. Ngay sau khi cam kết giảm thuế xuất khẩu nông sản vào Nhật Bản có hiệu lực, các doanh nghiệp xuất khẩu rau quả của Việt Nam đã nhanh chóng xây dựng kế hoạch, tìm kiếm đối tác nhập khẩu nhờ vậy xuất khẩu trái cây sang thị trường Nhật Bản liên tục tăng mạnh, đặc biệt từ khi nước này dỡ bỏ lệnh cấm nhập khẩu trái thanh long hồi cuối tháng 10/2009.

    Mặc dù kim ngạch xuất khẩu rau quả trong thời gian qua tăng trưởng khá đều nhưng chiếm tỉ trọng rất nhỏ so với tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, kim ngạch xuất khẩu tăng chủ yếu là do tăng giá. Xuất khẩu tươi rất ít (chiếm tỉ trọng 2,5% so với rau quả chế biến). Chưa có khả năng đáp ứng đơn hàng lớn trong khi khả năng chế biến của doanh nghiệp còn thừa.

    Phó chủ tịch Vinafruit, Giám đốc Công ty dịch vụ kỹ thuật nông nghiệp An Giang cho biết, xuất khẩu rau quả của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm có những thuận lợi và khó khăn nhất định, như sự chênh lệch về tỷ giá giữa đồng EURO và USD, nhưng so với cùng kỳ năm 2009 thì xuất khẩu rau quả vẫn tăng, ngay cả công ty dịch vụ kỹ thuật nông nghiệp An Giang cũng tăng trên 17%. Hiện chúng ta đã mở thêm một số thị trường Trung Đông, và thị trường trong nước cũng đang quay lại với trái cây nội, dù có bề ngoài không bắt mắt nhưng chất lượng an toàn vì không có chất bảo quản và dư lượng thuốc BVTV. Dự báo, xuất khẩu rau quả 5 tháng cuối năm sẽ rất thuận lợi, nhưng sẽ khó đạt được mốc 1 tỷ USD rau quả vào năm 2010 như chính sách khuyến khích xuất khẩu của Chính phủ.

 

    Dệt may, da giày đầy ắp đơn hàng trong năm 2010

    

    Trong năm 2010, dệt may và da giày của Việt Nam đã đạt được mức tăng trưởng tốt. Đơn hàng xuất khẩu đều tăng mạnh so với năm ngoái.

    

    Đơn hàng da giày tăng 16%

    

    Theo Phó chủ tịch Hiệp hội Da giày Việt Nam (Lefaso), ông Diệp Thành Kiệt, đơn hàng xuất khẩu da giày Việt Nam trong năm nay tăng khoảng 16% so với năm ngoái. Nguyên nhân là do Trung Quốc đang thiếu nhân công cho những ngành thâm dụng lao động. 
    Ông Kiệt cho biết nhiều khách hàng đã chuyển từ mua da giày Trung Quốc sang mua sản phẩm da giày của Việt Nam vốn có chất lượng tương đối khá với giá cả chấp nhận được. 
    Tuy nhiên khó khăn hiện nay của ngành da giày là việc thu hút nhân công do đơn giá gia công thấp nên thu nhập của người lao động thấp hơn so với các ngành khác. Vì vậy, cần phải tìm ra các giải pháp mang tính dài hạn để khắc phục tình trạng này cho các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động nói chung và ngành da giày nói riêng. 
    Hiện tỷ lệ gia công của ngành da giày Việt Nam là khoảng 70%. Về nguyên liệu, Việt Nam chủ động hơn 90% về bao bì và đế giày, nhưng chỉ chủ động 20-30% nguyên liệu da cao cấp và chủ yếu phải nhập khẩu.

    Theo Lefaso, trong 7 tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất khẩu ngành da giày Việt Nam đạt 2,75 tỉ USD, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong số đó, hàng da giày xuất sang thị trường Mỹ đạt gần 700 triệu USD, chiếm 25% tổng giá trị xuất khẩu toàn ngành.

    Dệt may đủ đơn hàng hết năm 2010

    Bảy tháng đầu năm, xuất khẩu dệt may đã thu về 5,87 tỷ USD (kế hoạch cả năm là 10,5 tỷ USD). Tính đến thời điểm hiện tại phần lớn doanh nghiệp xuất khẩu dệt may đã có đủ đơn hàng cho năm 2010, thậm chí có doanh nghiệp không dám nhận đơn hàng vì sợ làm không kịp.

     Các doanh nghiệp trong ngành cũng đã làm rất tốt công tác đàm phán giá, mức tăng trung bình 15% so với năm ngoái. Mức tăng này thể hiện được sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam khi tái chinh phục các thị trường Mỹ, Nhật, Bản châu Âu. 
    Bên cạnh đó, việc thực hiện các hiệp định kinh tế thương mại giữa Việt Nam với các nước đã góp phần không nhỏ vào mức tăng kim ngạch xuất khẩu. Tại Hàn Quốc, kim ngạch xuất khẩu tăng đến 80% nhờ giảm thuế theo hiệp định giữa ASEAN với Hàn Quốc. Hay Hiệp định kinh tế thương mại Việt-Nhật đã góp phần làm tăng trưởng xuất khẩu sang Nhật 15% so với cùng kỳ năm ngoái.

    Riêng khu vực ASEAN, các doanh nghiệp Việt Nam cũng đưa được hàng vào khu vực này với mức tăng mạnh khoảng 30%. Kết quả này cho thấy sự năng động trong việc tìm kiếm thị trường xuất khẩu mới của nhiều doanh nghiệp.

    Bên cạnh việc tiếp tục ký kết các đơn hàng để đẩy mạnh xuất khẩu, ngành dệt may ngày càng chú trọng hơn đến thị trường nội địa bằng việc triển khai thực hiện tích cực cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam,” “Đưa hàng Việt về nông thôn.” 
    Các siêu thị thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam đã đẩy mạnh chiến lược phát triển thị trường nội địa, phấn đấu đạt mục tiêu bán lẻ tăng 17-20% năm 2010./.

    Hàng nhựa Việt Nam có mặt tại gần 70 thị trường trên thế giới

    Từ đầu năm đến nay, kim ngạch xuất khẩu các loại sản phẩm nhựa của nước ta đã đạt 554,1 triệu USD.  

Hiện nay, mặt hàng nhựa của Việt Nam được xuất khẩu tới gần 70 thị trường trên thế giới, trong đó có 7 thị trường đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 triệu USD.

    Nhật Bản hiện đang là thị trường nhập khẩu sản phẩm nhựa lớn nhất của Việt Nam. Riêng trong nửa cuối tháng 7 vừa qua, kim ngạch xuất khẩu tới thị trường này ước đạt 11,2 triệu USD, chiếm tỷ trọng 26,5% tổng kim ngạch xuất khẩu trong kỳ. Thị trường Mỹ xếp thứ hai với kim ngạch ước đạt 5,7 triệu USD. Hai thị trường xuất khẩu lớn tiếp theo là Đức và Campuchia với kim ngạch nhìn chung khá ổn định trong các tháng gần đây.

    Các sản phẩm dùng trong vận chuyển đóng gói vẫn là chủng loại sản phẩm được xuất khẩu nhiều nhất. Nhóm ngành bao bì nhựa đạt mức tăng trưởng cao nhất so với mức tăng của các dòng sản phẩm khác do nhu cầu tăng cao với tốc độ tăng trưởng dự báo khoảng 20% vào năm nay./.

TT TT CN & TM