Thị trường đang có lợi cho xuất khẩu nông sản
“Xuất khẩu nông sản 8 tháng đầu năm đạt kết quả tốt, nhất là những tháng giữa năm khi yếu tố thị trường thế giới có lợi cho mặt hàng lương thực - thực phẩm”, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nhận định trong một báo cáo đề cập đến tình hình thương mại quốc tế của ngành này.
Theo báo cáo, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm và thủy sản tháng 8 ước đạt 1,75 tỷ USD, đưa tổng kim ngạch xuất khẩu 8 tháng qua ước đạt 12,2 tỷ USD, tăng tới 20,1% so với cùng kỳ năm 2009.
Như vậy, nếu so với tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của cả nước đến hết tháng 8 ước vào khoảng 44,52 tỷ USD, con số trên chiếm tỷ trọng 27,4%, cao hơn so với tỷ lệ 26,5% được tính toán trên số liệu cũng do bộ này công bố cách đây một tháng.
Trong con số 12,2 tỷ USD kể trên, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính tăng tới 16,6% so với cùng kỳ và đạt 6,5 tỷ USD; tiếp đến là thuỷ sản tăng 12,9% và đạt 2,95 tỷ USD. Tuy có tỷ trọng nhỏ hơn trong giá trị kim ngạch xuất khẩu ngành nông nghiệp, lâm sản tăng mạnh nhất với 35,8% so với cùng kỳ năm 2009 và đạt 2,28 tỷ USD.
Sự thuận lợi của thị trường cho hoạt động xuất khẩu nông sản thể hiện ở việc giá tăng tại nhiều mặt hàng.
Cụ thể, giá gạo xuất khẩu bình quân 7 tháng đạt 485 USD/tấn, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm 2009. Với diễn biến này, gạo xuất khẩu trong 8 tháng đầu năm ước đạt 5 triệu tấn với kim ngạch đạt 2,4 tỷ USD, tăng 8,2% về lượng nhưng tăng tới 12,8% về giá trị so với cùng kỳ năm trước.
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, do diễn biến thời tiết bất thường ở nhiều nơi và giá lúa mỳ tăng cao khiến nhiều nước châu Phi chuyển sang mua gạo, làm nhu cầu gạo trên thị trường thế giới tăng. Tuy nhiên, chỉ tiêu xuất khẩu gạo đã gần đạt nên từ giờ đến cuối năm, các doanh nghiệp xuất khẩu cũng không ký kết thêm nhiều hợp đồng.
Nhưng, giá tăng mạnh nhất xuất hiện ở mặt hàng cao su. Nhu cầu tiêu dùng tiếp tục tăng đẩy giá cao su xuất khẩu của Việt Nam lên gấp 2 lần so với cùng kỳ năm ngoái, giá bình quân 7 tháng đầu năm đạt 2.752 USD/tấn.
Ước tính, khối lượng cao su xuất khẩu 8 tháng đầu năm ước vào khoảng 417 nghìn tấn với trị giá 1,15 tỷ USD, chỉ đạt xấp xỉ về lượng nhưng tăng tới 89% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2009.
Ngược lại, giá cà phê xuất khẩu vẫn giảm nhẹ, bình quân 7 tháng năm nay chỉ đạt 1.415 USD/tấn, giảm 4,6% so với cùng kỳ năm 2009.
Việc giá cà phê giảm không khuyến khích được xuất khẩu sản phẩm này, tổng lượng cà phê xuất khẩu 8 tháng năm 2010 ước đạt 840 nghìn tấn với kim ngạch 1,2 tỷ USD, giảm 1,3% về lượng và 4,7% về giá trị so với cùng kỳ.
Các nông sản xuất khẩu còn lại cũng trong diễn biến tăng giá chung. Xuất khẩu chè 8 tháng năm 2010 ước đạt 85 nghìn tấn với trị giá 124 triệu USD, chỉ tăng 2,5% về lượng nhưng về giá trị tăng tới 14,9% so với cùng kỳ năm trước; lượng điều xuất khẩu 8 tháng đầu năm ở mức 120 nghìn tấn thu về 656 triệu USD, so với năm 2009 tăng 5,2% về lượng và 25% về giá trị (25%); xuất khẩu hạt tiêu 8 tháng đạt 94 nghìn tấn với kim ngạch xuất khẩu là 312 triệu USD, tuy giảm 2,9% về lượng nhưng tăng tới 35,1% về trị giá so với năm trước.
Với mặt hàng có tốc độ tăng kim ngạch lớn nhất - lâm sản và đồ gỗ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, xuất khẩu nhóm sản phẩm này năm nay cũng gặp nhiều thuận lợi sau khi nền kinh tế phục hồi, các thị trường nhập khẩu lớn đều có sự tăng trưởng từ 10 - 200% so với cùng kỳ năm 2009.
Trong khi đó, xuất khẩu thủy sản vẫn ghi nhận sự tăng trưởng mạnh của mặt hàng tôm, được hỗ trợ bởi giá tăng hơn so với cùng kỳ. Xuất khẩu tôm 7 tháng đầu năm 2010 đạt 110,3 nghìn tấn với giá trị 929,2 triệu USD, tăng 15,5% về lượng và tới 19,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2009.
Trong khi đó, xuất khẩu cá tra, basa bị ảnh hưởng bởi giá giảm, mặc dù lượng tăng. Sau 7 tháng, Việt Nam đã xuất khẩu được 361 nghìn tấn cá tra, basa, đạt giá trị 774 USD, tăng 11,3% về khối lượng và 5,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2009.
Cũng trong 8 tháng đầu năm, tổng giá trị nhập khẩu của các mặt hàng nông, lâm, thuỷ sản và vật tư, nguyên liệu đạt 8,5 tỷ USD, tăng 28,9% so với cùng kỳ năm 2009. Như vậy, ngành nông nghiệp tiếp tục xuất siêu khoảng 3,7 tỷ USD trong 8 tháng đầu năm nay.
Nhập khẩu của doanh nghiệp FDI tăng 43,6%
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, kim ngạch nhập khẩu của cả nước trong tháng 8 -2010 ước đạt 6,9 tỉ USD, giảm 1,5% so với tháng 7. Tính chung, kim ngạch nhập khẩu 8 tháng đầu năm 2010 đạt 52,68 tỉ USD, tăng 24,4% so với cùng kỳ năm 2009. Trong đó, nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đạt 22,37 tỉ USD, tăng 43,6%.
Mặc dù lượng nhập khẩu giảm về lượng nhưng giá nhập khẩu bình quân của hầu hết các mặt hàng đều tăng nên ảnh hưởng đáng kể đến mức tăng của kim ngạch nhập khẩu cả nước. Tính riêng yếu tố tăng giá đã khiến kim ngạch nhập khẩu tăng hơn 3,8 tỉ USD.
Ước tính nhập siêu tháng 8 là 900 triệu USD, chiếm 15% kim ngạch xuất khẩu. Tính chung 8 tháng đầu năm, nhập siêu đạt 8,15 tỉ USD, bằng 18,3% kim ngạch xuất khẩu.
Tháng 8, tổng sản lượng thủy sản tăng 4,3% so với cùng kỳ năm 2009
Tổng sản lượng thuỷ sản tháng 8 ước đạt 454 nghìn tấn, tăng 4,3% so cùng kỳ năm trước; trong đó cá đạt 327 nghìn tấn tăng 3,6%, tôm 74 nghìn tấn, tãng 7% so với cùng kỳ năm 2009.
Nuôi trồng thủy sản tăng 4,7%
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, sản lượng thuỷ sản nuôi trồng tháng 8 đạt 266 nghìn tấn, tăng 4,7% so cùng kỳ năm trước; trong đó cá đạt 182 nghìn tấn, tăng 3,4%, tôm đạt 65 nghìn tấn, tăng 8,3%.
Nuôi trồng thuỷ sản tăng khá do đang vào thời kỳ thu hoạch chính vụ, ngoài ra, nuôi các loài cá và thủy sản khác với nhiều hình thức kết hợp vẫn tiếp tục phát triển đều trên cả nước, đặc biệt là trên các vùng nước như ruộng trũng kết hợp trồng lúa, nuôi biển, hồ đập thuỷ lợi.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết thời gian gần đây giá thức ăn thủy sản tăng, người nuôi khó tiếp cận nguồn vốn vay của ngân hàng, giá bán cá tra ra xấp xỉ giá thành sản phẩm, nên chưa khuyến khích được các hộ khôi phục nuôi trở lại. Trước tình hình này dự báo sản xuất cá tra sẽ không đủ đáp ứng đủ nguyên liệu cho các nhà máy chế biến xuất khẩu trong những tháng cuối năm.
Nuôi tôm sú tương đối ổn định, mưa nhiều làm biến đổi các yếu tố môi trường (độ PH, độ mặn…) dẫn đến tôm chết trên một số diện tích thả nuôi. Hiện nay đang vào thu hoạch chính vụ, giá thu mua tôm sú nguyên liệu khá cao.
Khai thác thủy sản tăng 3,7%
Sản lượng thuỷ sản khai thác tháng 8 ước đạt 188 nghìn tấn, tăng 3,7 % so với cùng kỳ năm trước; trong đó khai thác biển đạt 169 nghìn tấn, tăng 5,2%. Thời tiết biển thuận lợi hơn so với cùng kỳ năm trước; số tàu thuyền khai thác thuỷ sản bám biển tăng làm sản lượng thuỷ sản khai thác tăng khá.
Tính chung 8 tháng đầu năm 2010, tổng sản lượng thuỷ sản ước đạt 3.347 nghìn tấn, tăng 4,6% so cùng kỳ năm trước; trong đó sản lượng cá đạt 2.557 nghìn tấn, tăng 4,4%, tôm 349 nghìn tấn, tăng 5,7%; sản lượng thuỷ sản nuôi trồng đạt 1.760 nghìn tấn, tăng 4,9%, sản lượng thuỷ sản khai thác đạt 1.587 nghìn tấn, tăng 4,2% (trong đó khai thác biển đạt 1.471 nghìn tấn).
Tuy nhiên, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đánh giá sản xuất nông nghiệp vẫn còn gặp nhiều khó khăn, trong đó khó khăn chủ yếu là dịch hại cây trồng, dịch bệnh ở gia súc gia cầm, cháy rừng và thiên tai...
Xuất khẩu tôm tăng cả về khối lượng và giá trị
Xuất khẩu thuỷ sản tháng 8 ước đạt 460 triệu USD đưa giá trị xuất khẩu 8 tháng đầu năm 2010 lên 2,9 tỷ USD. Xuất khẩu tôm tăng trưởng cả về khối lượng và giá trị, xuất khẩu tôm 7 tháng năm 2010 đạt 110,3 ngàn tấn (tăng 15,5% so với cùng kỳ năm 2009) với giá trị 929,2 triệu USD (tăng 19,9%).
Sau 7 tháng đã xuất khẩu được 361 ngàn tấn cá tra, basa đạt giá trị 774 USD, tăng 11,3% về khối lượng và 5,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2009.
Thị trường tiêu thụ cá tra, basa đứng đầu là Mỹ (80,8 triệu USD tăng 16,5% so với năm 2009, chiếm 10,4% giá trị xuất khẩu cá tra, basa).
Các nước trong khối EU cũng là những khách hàng tiêu thụ cá tra, basa quan trọng của Việt Nam như Tây Ban Nha (71,2 triệu USD, chiếm 9,2%), Đức (52,6 triệu USD, chiếm 6,8%), nhưng giá trị xuất khẩu năm nay sang khối thị trường này lại giảm 5% so với cùng kỳ năm 2009.
Nhật Bản vẫn là thị trường tiêu thụ tôm hàng đầu của Việt Nam, với khối lượng xuất khẩu là 32,4 ngàn tấn (chiếm 29,3% khối lượng tôm xuất khẩu, tăng 16,7%).
Về thị trường xuất khẩu, nhóm các nước EU tiếp tục là thị trường tiêu thụ thuỷ sản lớn nhất của Việt Nam duy trì được tốc độ tăng trưởng cao với khối lượng 204,6 ngàn tấn (chiếm 28,5% tổng khối lượng xuất khẩu thuỷ sản, tăng 5,1% so với cùng kỳ năm 2009) và giá trị 621 triệu USD (chiếm 25% tổng giá trị xuất khẩu thuỷ sản, tăng 7,6%).
Hai thị trường Nhật và Mỹ cũng duy trì được tốc độ tăng trưởng khá ở mức xấp xỉ 20% so với cùng kỳ năm ngoái.
Khuyến cáo người dân thận trọng khi phát triển nuôi cá sấu ồ ạt
Năm 2010, đàn cá sấu nuôi mới của tỉnh Bạc Liêu tăng hơn 100 ngàn con, nâng tổng đàn cá sấu đến thời điểm này trên 200 ngàn con, tăng hơn gấp đôi so với cùng kỳ năm 2009.
Hiện tại, số hộ nuôi cá sấu đang tăng nhanh, ngoài khả năng dự báo của ngành chuyên môn cũng như sự quản lý của chính quyền địa phương. Do sản xuất chạy theo phong trào, nhất là gần đây cá sấu thương phẩm trên thị trường có giá trở lại, nên nhiều người ồ ạt đầu tư chuyển đổi sang nuôi cá sấu. Phong trào nuôi tự phát đã đẩy giá con giống vốn đắc đỏ trở nên khan khiếm hơn. Nhiều hộ muốn nuôi bằng mọi giá đã mua con giống trôi nổi, không rõ nguồn gốc dẫn đến thiệt hại nặng do bị chết, nuôi không lớn … Hơn nữa, do mô hình này phát triển quá nhanh, trong khi đó người chăn nuôi không đầu tư chuồng trại, ao hồ đúng quy cách, kỹ thuật, đã có không ít hộ xây chuộng nuôi tạm bợ, tận dụng lại ao hồ cũ, chuồng nuôi lợn,... nên không những không đảm bảo an toàn, mất trộm mà đã có nhiều trường hợp xảy ra xổng chuồng, cá thoát ra ngoài sông rạch rất nguy hiểm.
Một minh chứng mà ngành chức năng khuyến cáo là: trước đây đã có một thời gian dài người nuôi cá sấu Bạc Liêu điêu đứng vì giá rớt thê thảm mà vẫn không có người mua. Càng nuôi càng lỗ, nhiều hộ chỉ còn cách làm thịt sử dụng dần. Hơn nữa, mặc dù gần đây giá cá có nhích lên nhưng việc thu mua, tiêu thụ không ổn định, chủ yếu là xuất bán nhỏ lẻ, khá bất bênh. Trong khi đó, người dân nuôi phần lớn chạy theo phong trào là chính, đa phần không có kỹ thuật nuôi, da kém chất lượng, thiếu vốn nên cá nuôi khó có thể lấy da bán theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp.
Ông Trần Văn Ân, Phó Chủ tịch UBND huyện Phước Long, là địa phương có tổng đàn cá sấu lớn nhất tỉnh Bạc Liêu cho biết: do đàn cá sấu nuôi mới tăng nhanh nên địa phương gặp không ít khó khăn trong quản lý vì cá sấu là vật nuôi phải đăng ký, cấp sổ quản lý... Qua thống kê, nắm lại tổng đàn nhằm hướng dẫn cho bà con đăng ký nuôi hợp pháp, huyện Phước Long phát hiện phần lớn quy trình kỹ thuật nuôi không đạt yêu cầu, do đó khuyến cáo người dân nếu chưa có đủ điều kiện thì hạn chế đầu tư nuôi mới nhằm hạn chế rủi ro sau này./.
Xuất khẩu hạt tiêu tăng 40%
Nguồn cung khan hiếm trong khi nhu cầu cao khiến cho giá hạt tiêu trong tháng 7 và đầu tháng 8 vừa qua tiếp tục tăng mạnh.
Giá thu gom hạt tiêu đen trong nước tháng 7 và đầu tháng 8.2010 cũng tăng mạnh do lượng hạt tiêu trong dân còn rất ít. Đến cuối tháng 8.2010, giá thu mua đạt từ 74.000 – 76.000 đồng/kg (3.830 – 3.930 USD/tấn), tăng tới 25% so với tháng 6. Thậm chí, giá hạt tiêu loại tốt còn lên tới 80.000 đồng/kg.
Tính chung bảy tháng đầu năm nay, xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam đạt 83.890 tấn với trị giá 272,41 triệu USD, tăng 1,5% về lượng và 40,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2009.
Tuy nhiên, từ trung tuần tháng 8.2010, giá hạt tiêu thế giới đã chững lại, có nơi giảm khoảng 5% so với mức cao kỷ lục. Tại Việt Nam, giá thu mua trong nước cũng giảm khoảng 2.000 – 3.000 đồng/kg.
Sản xuất cà phê sạch, tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế
Các công ty, nông trường cà phê ở Đắk Lắk đã áp dụng biện pháp thâm canh tiến bộ, sản suất thân thiện với môi trường, nhằm tạo ra sản phẩm sạch, an toàn thực phẩm. Qua phân tích hoá thực phẩm, chất lượng sản phẩm cà phê nhân đã được cải thiện đáng kể, tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Trong sản xuất kinh doanh, giá trị xuất khẩu tăng lên, lợi nhuận doanh nghiệp và thu nhập của người lao động được tăng lên.
Công ty cà phê Thắng Lợi (Đắk Lắk) có trên 2.000 ha cà phê, trong đó phân vùng sản xuất cà phê sạch diện tích 1.200 ha. Phát triển vùng cà phê sạch, công ty đã đưa tiến bộ kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất và áp dụng quản lý dịch hai IPM. Công ty thực hiện nghiêm ngặt việc bón lượng phân hữu cơ vi sinh, phân vô cơ theo tỉ lệ hợp lý, vừa tăng độ phì cho đất, vừa bảo đảm vườn cà phê phát triển và sinh trưởng tốt, cho năng suất cao và chất lượng sản phẩm tốt. Trong quá trình chăm bón, công ty không sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật để phòng trừ sâu bệnh và bảo quản sản phẩm. Sau khi xây dựng cơ sở chế biến cà phê bột, công ty sử dụng trên 20% sản lượng cà phê quả tươi thu hoạch trên vườn cây này đưa vào chế biến phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Sản phẩm cà phê nhân sau khi xuất xưởng đạt chất lượng cao hơn so với những sản phẩm được chế biến khô và giá trị thu được cũng cao hơn từ 5 đến 7%. Phát triển được vườn cà phê sạch, công ty đã mở xưởng chế biến cà phê bột chất lượng cao COFFEE VICTORIA với sản lượng từ 500 đến 800 tấn sản phẩm năm.
Từ năm 2007, Công ty cà phê Buôn Hồ là đơn thí điểm của Tổng công ty cà phê Việt Nam thực hiện chương trình sản xuất cà phê sạch. Áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, hàng năm công ty đã cải tạo những cây cà phê già cỗi năng suất thấp, bệnh rỉ sắt bằng phương pháp ghép cây (dòng vô tính) với chồi ghép được lấy từ những cây cà phê có đặc tính ưu việt. Sau khi đưa vườn cây vào kinh doanh, công ty đã tạo được vườn cà phê phát triển đồng đều, tỉ lệ sản phẩm cà phê R1 tăng. Năm 2008, công ty lắp đặt dây chuyền công nghệ chế biến ướt tiên tiến, bảo đảm chế biến toàn bộ sản phẩm cà phê quả tươi của đơn vị và của bà con công nhân liên kết sản xuất. Trong mùa thu hoạch, công ty thực hiện hái quả chín trên 90% và khi đưa vào xưởng chế biến sản phẩm được quản lý trên từng công đoạn theo tiêu chuẩn 10CTN95-98. Nhờ vậy, sản phẩm cà phê nhân của doanh nghiệp đạt chất lượng cao, giá trị 1 tấn sản phẩm cà phê nhân xuất khẩu cao hơn cùng loại 41-45 USD và người lao động tăng thêm thu nhập 150.000-200.000 đồng.
Được khuyến khích của ngành nông nghiệp, các đơn vị Công ty cà phê Tháng Mười, Công ty cà phê Phước An, Công ty cà phê Ea Pôk (Đắk Lắk), Công ty cà phê Ea Sim, Công ty cà phê Việt Thắng (Tổng Công ty cà phê Việt Nam) đã thực hiện sản xuất cà phê sạch bằng việc áp dụng quản lý dịch hại IPM, tăng lượng phân hữu cơ và hữu cơ vi sinh, hạn chế việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật trong quá trình chăm bón; tăng sản lượng cà phê chế biến quả tươi, quản lý chặt chẽ việc thu hái, thường xuyên kiểm ra chất lượng sản phẩm trong quá trình chế biến, nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm./.
Năm 2010: xuất khẩu 1,5 tỉ USD cao su
Bà Nguyễn Thị Thuý Hoa, tổng thư ký hiệp hội Cao su Việt Nam cho biết, xuất khẩu cao su tiếp tục tăng trưởng cao trong hai tháng trở lại đây.
Trong 15 ngày đầu tháng 8, doanh nghiệp bán 48.700 tấn mủ cao su, thu về 121,2 triệu USḌ. Tính chung tám tháng đầu năm nay, lượng cao su thiên nhiên xuất khẩu dự kiến khoảng 432.000 tấn, trị giá trên 1,1 tỉ USD.
Thông thường, quý 3 và 4 là thời điểm vào vụ thu hoạch rộ mủ cao su. Vì vậy, hiệp hội ước tính sản lượng cao su xuất khẩu năm nay sẽ đạt khoảng 770.000 tấn, đem về 1,5 tỉ USD, tăng 6,4% về sản lượng và 22,3% giá trị so với năm 2009.
Đắk Lắk tăng gấp đôi kim ngạch mật ong xuất khẩu
Kết thúc thời vụ khai thác mật, Công ty cổ phần ong mật Đắk Lắk đã thu mua được 10.800 tấn mật ong và đến cuối tháng 8 đã xuất khẩu 5.400 tấn với kim ngạch đạt 11 triệu USD.
Toàn bộ sản phẩm mật ong được xuất khẩu tới các nước Hoa Kỳ, Canada, Nhật Bản và Hàn Quốc. Riêng thị trường Hoa kỳ nhập khẩu trên 80% sản phẩm mật ong của Đắk Lắk.
Từ nay đến cuối năm, công ty sẽ xuất khẩu thêm 5.000 tấn mật ong, phấn đấu sản lượng xuất khẩu cả năm đạt trên 1.400 tấn mật ong với kim ngạch đạt trên 20 triệu USD, cao gấp đôi kim ngạch xuất khẩu cả năm 2009.
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, công ty đã mở rộng đầu tư sản xuất trong tỉnh Đắk Lắk và các địa phương khác tạo điều kiện cho nông dân phát triển ngành nuôi ong.
Công ty đã đầu tư cho các chủ trai và hộ nuôi ong 25 tỷ đồng bằng các loại vật tư cần thiết cho hoạt động nuôi ong lấy mật.
Theo hợp đồng sản xuất, trong mùa khai thác mật, công ty thu lại vốn đầu tư bằng sản phẩm mật ong và sáp ong phục vụ cho yêu cầu xuất khẩu.
Công ty đã xây dựng ba nhà kho tại Đắk Lắk, Bình Phước và Thành phố Hồ Chí Minh có sức chứa 13.000 tấn sản phẩm mật ong.
Tại đây, công ty lắp đắt các thiết bị máy móc tiên tiến để tinh lọc mật ong và đóng gói sản phẩm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu theo yêu cầu của khách hàng quốc tế./.
Ngành da giày có thể đạt kim ngạch xuất khẩu 5,4 tỷ USD
Tin từ Hiệp hội Da giày Việt Nam (Lefaso), do thuận lợi về đơn hàng và thị trường, trong năm nay kim ngạch xuất khẩu của ngành da giày có thể đạt 5,4 tỷ USD (trong khi kim ngạch năm 2009 chỉ đạt 4,1 tỷ USD do kinh tế toàn cầu suy thoái), trong đó giày dép các loại đạt 761 triệu đôi, cặp túi các loại đạt 98 triệu cái…
Được biết, ngành da giày Việt Nam đang đứng thứ 5 trong top các nước xuất khẩu giày lớn trên thế giới. Tuy nhiên, ngành da giày vẫn chủ yếu sản xuất bằng phương thức gia công và lệ thuộc vào nguyên phụ liệu, công nghệ và cả vốn đầu tư từ nước ngoài.
Chính vì vậy, Lefaso vừa đệ trình Chính phủ phê duyệt chiến lược mới phát triển ngành từ nay đến năm 2020, với nhiều giải pháp quyết liệt để phát triển ngành công nghiệp phụ trợ và nguyên phụ liệu trong nước để đến năm 2015 kim ngạch xuất khẩu đạt 8,5 tỷ USD, tỷ lệ nội địa hóa tăng từ 50% hiện nay lên 60%-70% và đến năm 2020 kim ngạch xuất khẩu đạt 11 tỷ USD.
Dự kiến, nguồn vốn đầu tư mở rộng năng lực sản xuất trong giai đoạn này vào khoảng 18.800 tỷ đồng tập trung vào sản xuất khuôn mẫu, phom, đế và đặc biệt là dự án database dữ liệu thiết kế thống kê các ni số phom giày từ trẻ em đến người lớn trong phạm vi toàn quốc; đầu tư mở rộng các cụm công nghiệp sản xuất nguyên liệu gồm da, giả da, PU…
Ông Nguyễn Đức Thuấn, Chủ tịch Lefaso cho biết, vào đầu tháng 9 này, từ ngày 9 đến 11 sẽ diễn ra hàng loạt các hoạt động nhằm khuyếch trương vị thế của ngành da giày Việt Nam như công bố chiến lược phát triển ngành, tôn vinh các tập thể và các cá nhân nhân kỷ niệm 20 năm thành lập hiệp hội, đăng cai tổ chức Hội nghị Quốc tế ngành giày khu vực châu Á lần thứ 29, tổ chức hội chợ quốc tế nguyên phụ liệu và máy móc da giày…
Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ tăng cao
Tám tháng đầu năm 2010, một số mặt hàng như mây tre đan xuất khẩu đạt 135 triệu USD, gốm sứ hơn 200 triệu USD...
Ngày 31-8, ông An Văn Khanh, Phó Cục trưởng Cục Chế biến thương mại nông sản, thủy sản và nghề muối (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), cho biết xuất khẩu mặt hàng thủ công mỹ nghệ tăng trưởng cao, trung bình 20%/năm.
Xuất khẩu mặt hàng này trong năm 2009 đạt gần 900 triệu USD. Tám tháng đầu năm 2010, một số mặt hàng như mây tre đan xuất khẩu đạt 135 triệu USD, gốm sứ hơn 200 triệu USD... Tuy nhiên, nhược điểm của hàng thủ công mỹ nghệ chưa có thị trường ổn định và nguy cơ gây ô nhiễm môi trường tại các làng nghề khá cao.
Từ ngày 16 đến 21-9, Lễ hội làng nghề, phố nghề Thăng Long-Hà Nội được tổ chức tại Hà Nội. Tại đây sẽ diễn ra nhiều chương trình tôn vinh nghệ nhân, thợ thủ công, hội thảo giữ gìn làng nghề, xúc tiến thương mại... Ban tổ chức cho biết hơn 200 gian hàng từ các vùng miền đăng ký tham dự.
Thương mại Việt - Trung tăng trưởng nhanh chóng
Trong 6 tháng đầu năm nay, kim ngạch thương mại hai nước đạt gần 13 tỷ USD, tăng 49,5%.Trong khuôn khổ Những ngày Việt Nam tại Trung Quốc, chiều 30/8 tại Bắc Kinh, Trung Quốc đã diễn ra Diễn đàn hợp tác thương mại đầu tư Việt Nam- Trung Quốc. Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Trưởng đoàn Việt Nam tham dự những ngày Việt Nam tại Trung Quốc Hoàng Tuấn Anh cùng gần 300 doanh nghiệp Việt Nam Trung Quốc tham dự diễn đàn.
Phát biểu tại diễn đàn, đại diện Việt Nam và Trung Quốc đều vui mừng nhận thấy rằng, trong mấy năm gần đây, quan hệ thương mại Việt Nam-Trung Quốc tăng trưởng nhanh chóng, với tốc độ trung bình đạt 32% trong giai đoạn 2000-2010. Hiện nay, hai nước đang có nhiều cơ hội để thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế song phương phát triển mạnh mẽ trong tương lai.
Trong năm 2009, mặc dù chịu ảnh hưởng khủng hoảng tài chính toàn cầu, kinh tế thế giới suy giảm, nhưng kim ngạch thương mại hai nước vẫn đạt 21,35 tỷ USD, tăng hơn 5% so với năm 2008. Trong 6 tháng đầu năm nay, kim ngạch thương mại hai nước đạt gần 13 tỷ USD, tăng 49,5%. Với đà phát triển như hiện nay, hai nước hoàn toàn có thể đạt được mục tiêu kim nghạch thương mại hai chiều đạt 25 tỷ USD trong năm nay. Trong lĩnh vực đầu tư, tính đến cuối tháng 7/2010, Trung Quốc đã có 743 dự án đầu tư tại 53 trên 63 tỉnh thành của Việt Nam, với tổng vốn đăng ký đạt hơn 3 tỷ USD, đứng thứ 15 trong tổng số các nước đầu tư vào Việt Nam.
Tuy nhiên, kết quả mà hai bên đã đạt được chưa tương xứng với tiềm năng của hai nước. Hai bên đã đưa ra một số kiến nghị nhằm thúc đẩy hơn nữa quan hệ hợp tác kinh tế thương mại hai bên như tận dụng tốt cơ hội do khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc- ASEAN mang lại, Trung Quốc tăng cường nhập khẩu các mặt hàng Việt Nam có ưu thế, Việt Nam khuyến khích các doanh nghiệp có thực lực của Trung Quốc đầu tư trong các lĩnh vực gia công chế biến thủy hải sản, nghành công nghiệp chế tạo, sản xuất nguyên phụ liệu dệt may, công ngiệp phụ trợ vv.
Kết thúc diễn đàn đã diễn ra lễ ký kết hợp tác giữa các doanh nghiệp Việt Nam và Trung Quốc./.
Kim ngạch nhập khẩu hàng hoá từ Trung Quốc chiếm trên 23% kim ngạch nhập khẩu của cả nước
Sáu tháng đầu năm 2010, Việt Nam nhập khẩu hàng hoá từ Trung Quốc đạt trên 9 tỷ USD, tăng gần 33% so với cùng kỳ năm 2009, chiếm 23,5% trong tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá của cả nước; trong đó kim ngạch nhập khẩu của tháng 6/2010 trên 1,7 tỷ USD, giảm nhẹ 4% so với tháng 5/2010.
Đứng đầu về kim ngạch là nhóm sản phẩm máy móc, phụ tùng với trên 2tỷ USD, chiếm 22,7% tổng kim ngạch; đứng thứ 2 là mặt hàng vải may mặc với trên 1 tỷ USD, chiếm 11%; tiếp đến sắt thép 792 triệu USD; máy vi tính, sản phẩm điện tử 730 triệu USD.
Trong 6 tháng đầu năm, hầu hết các mặt hàng nhập khẩu từ Trung Quốc đều tăng kim ngạch so với cùng kỳ, chỉ có 7/39 nhóm mặt hàng bị sụt giảm kim ngạch; trong đó giảm mạnh nhất là kim ngạch nhập khẩu Bông giảm 53%; sau đó là Phân bón (-34%); Thức ăn gia súc và nguyên liệu (-30%); Hàng thuỷ sản (-27%); Phương tiện vận tải phụ tùng (-26%); Hàng rau quả (-4,6%); Đá quí, kim loại quí và sản phẩm (-3%). Ngược lại, nhóm Dầu mỡ động thực vật lại đạt mức tăng trưởng cực mạnh 793% so với cùng kỳ, mặc dù kim ngạch chỉ đạt 4,6 triệu USD; đứng thứ 2 về mức độ tăng trưởng mạnh là nhóm sắt thép tăng 270%; tiếp đến là một số mặt hàng cũng có mức tăng trưởng cao trên 100% là: Cao su (+228%); Kim loại thường (+148%); Nguyên phụ liệu thuốc lá (+125%); Xơ sợi dệt các loại (+112%); Sản phẩm khác từ dầu mỏ (+104%).
Xét riêng tháng 6 thì nhóm sản phẩm dầu mỡ động thực vật lại đạt mức sụt giảm mạnh nhất về kim ngạch so với tháng 5/2010, với mức giảm trên 81%; sản phẩm xe máy nguyên chiếc cũng giảm mạnh trên 75% về kim ngạch so với tháng 5; sau đó là Hàng thuỷ sản (-66%); Xăng dầu các loại (-62%). Ngược lại, có 4 nhóm sản phẩm tăng trưởng trên 30% về kim ngạch đó là: Phân bón (+48%); Hàng rau quả (+45%); Bông các loại (+40%); Đá quí, kim loại quí và sản phẩm (+36%).
TT TT CN & TM