Nhật Bản đưa ra gói kích thích kinh tế mới
Chính phủ Nhật Bản dự kiến sẽ đưa ra gói kích thích kinh tế mới trị giá 11 tỷ USD nhằm đảm bảo sự phục hồi kinh tế mong manh và hạn chế sự ảnh hưởng của đồng yên đang tăng giá đối với nền kinh tế nước này.
Thủ tướng Nhật Bản Naoto Kan cho biết gói kích thích kinh tế mới này sẽ tập trung vào các lĩnh vực như giáo dục, việc làm và đầu tư. Số tiền 11 tỷ USD trên sẽ lấy từ các quỹ dự phòng. Hạn chót cho việc thông qua gói kích thích trên vào ngày 10/9 tới.
Cùng ngày, Hội đồng Chính sách Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) đã bỏ phiếu thông qua kế hoạch nới lỏng hơn nữa chính sách tiền tệ thông qua việc bơm thêm vốn với lãi suất thấp và có kỳ hạn dài hơn vào thị trường tiền tệ. Động thái trên diễn ra ngay sau khi đồng yên tăng giá kỷ lục so với USD trong vòng 15 năm qua, ảnh hưởng tiêu cực tới nền kinh tế Nhật Bản và tâm lý nhà đầu tư. Theo kế hoạch, BOJ sẽ bơm 10.000 tỷ yên (118 tỷ USD) vốn vay có kỳ hạn 6 tháng, cùng với các khoản vay có kỳ hạn 3 tháng có tổng trị giá 20.000 tỷ yên mà BOJ đã bắt đầu bơm vào thị trường từ tháng 12 năm ngoái. Lãi suất của các khoản vay có kỳ hạn 3 tháng này chỉ là 0,1%.
Ngân hàng trung ương Nhật sẽ tăng quỹ cho vay thêm 10 nghìn tỷ yên (116 tỷ đôla) lên tổng cộng là 30 nghìn tỷ yên. Thống đốc ngân hàng ông Masaaki Shirakawa tuyên bố sẽ có thêm hành động nếu cần thiết, đồng thời cảnh báo sự phục hồi kinh tế có thể đang gặp nguy cơ.
Giới đầu tư tỏ ra thất vọng với động thái này của ngân hàng trung ương Nhật vì quy mô không lớn, với chứng khoán giảm điểm trong khi đồng yên tăng giá trở lại. Hiện tại chú ý đang đổ dồn về phía chính phủ khi các bộ trưởng sẽ họp vào cuối ngày để đưa ra biện pháp kích cầu tài chính.
Thị trường tiền tệ đã có phản ứng tích cực trước quyết định nới lỏng tiền tệ của BOJ. Sáng 30-8, đồng yên đã hạ nhiệt ở thị trường Tokyo với tỷ giá 1 USD = 85,89 - 85,90 (tuần trước 1 USD=83,58). Tuy nhiên, một số chuyên gia môi giới dự báo hiệu ứng đồng USD tăng giá so với đồng yên có thể chỉ tồn tại trong thời gian ngắn. Nếu số liệu kinh tế chủ chốt của Mỹ, trong đó có báo cáo việc làm dự kiến được công bố vào cuối tuần này, cho thấy tốc độ phục hồi kinh tế của Mỹ vẫn rất chậm chạp, Chính phủ Mỹ có thể sẽ phải nới lỏng hơn nữa chính sách tiền tệ và điều này sẽ tác động tiêu cực tới hiệu quả quyết định mới của Nhật Bản.
Trung Quốc đánh thuế thịt gà nhập khẩu của Mỹ
Bộ Thương mại Trung Quốc ngày 31/8 cho biết nước này đã quyết định đánh thuế đối với thịt gà nhập khẩu của Mỹ, do cáo buộc Chính phủ Mỹ đã đưa ra mức trợ giá từ 4-30,3% giá nhập khẩu mặt hàng này, gây phương hại đáng kể cho ngành sản xuất thịt gà Trung Quốc.
Quyết định này đã được thực thi từ ngày 30/8/2010 và mức thuế sẽ được giữ nguyên trong vòng 5 năm.
Tháng 4/2010, Trung Quốc đã đưa ra mức thuế chống trợ giá sơ bộ 3,8%-31,4% đối với mặt hàng thịt gà của Mỹ.
Động thái này được đưa ra sau khi quốc gia đông dân nhất thế giới này vừa quyết định đánh thuế chống bán phá giá 105,4% đối với mặt hàng trên vào tháng 2/1010.
Mỹ là quốc gia xuất khẩu thịt gà lớn nhất tới Trung Quốc, chiếm hơn 70% lượng thịt gà nhập khẩu của nước này.
Tuy nhiên, giữa Mỹ và Trung Quốc liên tiếp xảy ra các cuộc tranh chấp thương mại, thuộc các lĩnh vực khác nhau như thép, giấy và hóa chất.
Đồng thời nhiều chuyên gia kinh tế cũng chỉ trích việc Trung Quốc giữ đồng NDT ở mức thấp đã tạo ra lợi thế cạnh tranh không công bằng cho các nhà xuất khẩu nước này./.
Ấn Độ là nước tiêu thụ lụa lớn nhất thế giới
Ấn Độ là nước sản xuất tơ lụa lớn thứ hai thế giới sau Trung Quốc nhưng vẫn phải nhập khẩu khoảng 30% trong tổng nhu cầu bởi vị trí số 1 thế giới về tiêu thụ lụa của nước này.
Bộ trưởng Bộ Dệt May Dayanidhi Maran, cho biết loại lụa mà Ấn Độ phải nhập khẩu chủ yếu là loại có chất lượng cao.
Nhằm cung cấp loại lụa chất lượng tốt cho các nhà máy dệt ở Varanasi thuộc Uttar Pradesh và Kanchipuram ở Tamil Nadu, Ấn Độ sẽ phải nhập khẩu 2500 mét sợi tơ thô chất lượng tốt từ Trung Quốc để các thợ thủ công ở các khu vực này có thể duy trì hoạt động sản xuất và kinh doanh của họ trong năm nay.
Bộ trưởng Maran khẳng định, diện tích trồng dâu tằm tại Ấn Độ đã liên tục sụt giảm trong vài năm qua bởi quá trình phát triển và đô thị hoá.
Ấn Độ hiện đang dành nhiều ưu tiên cho phát triển ngành tơ tằm của đất nước. Minh chứng cụ thể là thời gian qua, chính phủ đã cho xây dựng một sân bay tại Karnataka và mua lại đất để dành cho các hoạt động liên quan đến ngành dâu tằm. Chính phủ thông qua Uỷ ban Tơ lụa Trung ương thực hiện một chương trình bảo trợ ngành thông qua đề án phát triển có tên Chương trình Xúc tác Phát triển (CDP) để tăng sản lượng tơ lụa trong nước. Chương trình này bao gồm việc khuyến khích các hoạt động nông nghiệp, đổi mới công nghệ, xây dựng cơ sở hạ tầng sản xuất kén, nâng cấp các cơ sở ươm tơ và công nghệ chế biến.
Uỷ ban Tơ lụa Trung ương là cơ quan quản lý về phát triển ngành tơ lụa, cung cấp các hỗ trợ về nghiên cứu và phát triển. Uỷ ban đồng thời có nhiệm cụ cung cấp hỗ trợ giống cho chính quyền các địa phương trong việc sản xuất kén tằm thương phẩm.
Các kế hoạch nêu trên thuộc đề án sẽ được thực hiện trong 5 năm thuộc kế hoạch phát triển 5 năm lần thứ 11 ở nước này.
Sản lượng cà phê của Indonesia có thể giảm 9%
Hiệp hội Cà phê Indonesia cho rằng sản lượng cà phê nước này có thể giảm 9% trong năm nay bởi mưa lớn. Sản lượng giảm là nguyên nhân cơ bản khiến xuất khẩu giảm theo.
Sự sụt giảm sản lượng ở Indonesia cộng với kế hoạch tạm trữ cà phê ở Việt Nam nhằm tăng nguồn dự trữ đã hỗ trợ cho giá cà phê tại Luân Đôn tăng trong cuối tuần qua và thời gian tới.
Giá cà phê robusta giao tháng 11 tại Luân Đôn đã tăng 40 USD lên 1.637 USD/tấn trong phiên cuối tuần qua, sau phiên giảm kỷ lục kể từ tháng 3/2008 trước đó.
Giá cà phê robusta đã tăng 20% trong năm nay.
Nhiều nguồn tin trên thế giới đưa tin, Việt Nam có thể sẽ mua tạm trữ 500.000 tấn cà phê trong nửa đầu niên vụ 2010/11. Niên vụ sẽ thu hoạch vào tháng 12, thay vì tháng 10, bởi mưa.
Tại Indonesia, mưa trái mùa và nặng hạt trong năm nay đã khiến hoạt động thu hoạch bị lùi lại đến tháng 7 thay vì tháng 5 như thường lệ. Thời tiết ẩm ướt còn cản trở quá trình phơi hạt của người dân, làm giảm chất lượng nhân cà phê.
Hiệp hội Xuất khẩu cà phê Indonesia nhận định, quốc gia sản xuất cà phê robusta lớn thứ 2 thế giới sau Việt Nam, có thể chỉ đạt sản lượng 500.000 tấn trong năm nay, thấp hơn so với 550.000 tấn ước đạt trong năm 2009.
Trong 7 tháng đầu năm nay, xuất khẩu cà phê từ đảo Sumatra, khu vực sản xuất cà phê chính ở Indonesia, đã giảm gần 42% xuống còn 111.541,36 tấn bởi vụ mùa đến chậm và dự trữ thấp.
Năm ngoái, xuất khẩu cà phê Indonesia ước đạt 494.356 tấn, tăng 13% so với năm 2008. Xuất khẩu năm nay có khả năng sẽ thấp hơn năm trước bởi sản lượng giảm.
Cà phê robusta của Indonesia được trồng chủ yếu ở các tỉnh Lampung, Bengkulu và South Sumatra ở phía nam đảo Sumatra, còn cà phê Arabica được trồng ở khu vực phía bắc đảo này.
Kingsman: Nhu cầu đường sẽ vượt cung trong nửa đầu vụ 2010/11
Nhu cầu đường thế giới dự đoán sẽ vượt cung trong nửa đầu niên vụ 2010/11 bắt đầu từ tháng 9 tới cho dù sản lượng tăng ở Ấn Độ.
Jonathan Kingsman, người đứng đầu Lausanne thuộc công ty tư vấn Kingsman SA cho rằng, như vậy có nghĩa là nhu cầu nhập khẩu sẽ cao hơn so với khả năng xuất khẩu. Thị trường có khả năng sẽ thiếu hụt 1,0 – 1,5 triệu tấn đường trong nửa đầu vụ tới.
Tuần trước, Tổ chức Đường Quốc tế đã tăng dự báo sản lượng đường ở Ấn Độ và nhận định thế giới sẽ thặng dư khoảng 3,22 triệu tấn đường trong niên vụ 2010/11, so với mức thiếu hụt 4,95 triệu tấn của niên vụ trước đó.
Kingsman cho rằng, nhu cầu cao hơn trên thị trường trong nửa đầu vụ tới có thể khuyến khích Ấn Độ xuất khẩu đường, tuy nhiên nước này sẽ nhập khẩu trở lại trong nửa cuối năm khi nguồn cung cải thiện nhờ vụ mùa ở Braxin.
Nhập khẩu đường ngày càng tăng từ Ấn Độ trong năm 2009 và đầu năm nay đã giúp giá đường tại New York đạt mức cao nhất trong 29 năm qua hồi tháng 2.
Dự kiến trong niên vụ tới, các nhà máy đường Ấn Đô sẽ đạt sản lượng 25,5 triệu tấn, so với 18,8 triệu tấn của năm ngoái. Họ sẽ phải xuất khẩu 967.000 tấn đường cho đến tháng 3 theo chính sách có từ năm 2004/05 - khi chính phủ quyết định cho phép miễn thuế nhập khẩu với điều kiện một lượng đường trắng tương tự được xuất khẩu. Ấn Độ dự kiến sẽ nhập khẩu 2 triệu tấn đường thô vào cuối năm tới và 2,5 triệu tấn đường vào năm 2012.
Giá đường thô trên thị trường thế giới hiện dao động quanh mức 19 cent/lb bởi nhu cầu cao.
Nhu cầu cao hơn thường lệ bởi nhiều nước muốn tăng cường dự trữ là nguyên nhân gây ra sự tắc nghẽn trong giao hàng lên tới 40 ngày tại các cảng chính ở Santos của Braxin.
Kingsman cho rằng, giá đường thế giới sẽ phụ thuộc vào vấn đề sản lượng ở Braxin và tình hình thời tiết ở cả các nước sản xuất lẫn tiêu thụ. Triển vọng tháng 10, ông cho rằng giá sẽ dao động từ 17,5 – 23 cent/lb.
Sản lượng đường ở các bang phía nam và trung Braxin dự kiến sẽ đạt 33,73 triệu tấn trong vụ tới, thấp hơn so với dự kiến 34,09 triệu tấn đưa ra hồi tháng 3, bởi thời tiết khô hạn. Trong khi đó tại Pakistan, lũ lụt có thể khiến nước này phải tiếp tục nhập khẩu đường trong năm tới. Còn tại Indonesia, thời tiết đang rất xấu, sản lượng đường trắng có thể giảm tới 8% trong năm nay, tuy nhiên chính phủ vẫn chưa có quyết định nhập khẩu thêm đường.
Thái Lan sẽ xuất khẩu 2,8 triệu tấn cao su trong năm nay
Xuất khẩu cao su Thái Lan năm nay sẽ ở mức khoảng 2,8 triệu tấn, và duy trì mức này trong năm 2011.
Chủ tịch Hiệp hội Cao su Thái Lan, Luckchai Kittipol, cho biết chính sách thuế xuất khẩu mới được áp dụng sẽ đẩy giá cao su nội địa tăng lên, làm giảm sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Theo quy chế mới, thuế sẽ là 3 Baht (0,095 USD)/kg nếu giá ở mức khoảng 80 – 100 Baht/kg, tức là như hiện nay. Nếu giá giảm xuống dưới mức đó, thuế sẽ là 2 Baht, còn trên đó sẽ là 5 Baht.
Mức thuế này tăng đáng kể so với mức hiện nay là 1,4 Baht/kg. Tiền thuế sẽ được bổ xung vào một quỹ có vai trò can thiệp vào thị trường cao su và hỗ trợ người trồng nếu giá trong nước giảm mạnh.
Thuế mới sẽ áp dụng từ ngày 1/10/2010. Theo ông Luckchai, với thuế này, giá cao su Thái Lan sẽ tăng khoảng 3% so với mức khoảng 3,3 – 3,5 USD/kg hiện nay. Mục tiêu của việc tăng thuế là nhằm khuyến khích ngành chế biến cao su và đẩy tiêu thụ nội địa tăng lên.
Thái Lan - nước xuất khẩu cao su lớn nhất thế giới, đã xuất khẩu 1,6 triệu tấn cao su từ đầu năm tới nay, tăng nhẹ so với 1,5 triệu tấn cùng kỳ năm ngoái.
Năm 2009, Thái Lan xuất khẩu 2,7 triệu tấn cao su.
TT TT CN & TM