Khu vực đồng euro đánh mất đà phục hồi kinh tế
Trong khi tăng trưởng kinh tế toàn cầu vẫn bị sức ép dai dẳng từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, châu Âu là khu vực kinh tế dễ bị tổn thương nhất do tiến trình giảm nợ công và chính sách khắc khổ được thực hiện ở hầu hết các nước ở châu lục này
Các số liệu thống kê về kinh tế Khu vực đồng tiền chung châu Âu (đồng euro) cho thấy tiến trình phục hồi kinh tế của khu vực này đang mất đà tăng trưởng.
Theo nghiên cứu của công ty thông tin tài chính toàn cầu Markit của Anh, chỉ số kinh tế của toàn Khu vực đồng euro, trong đó bao gồm cả khu vực công nghiệp chế tạo và dịch vụ, giảm trong tháng Tám vừa qua.
Mặc dù nền kinh tế Đức và Pháp tăng trưởng khả quan, song chỉ số sức mua (PMI) giảm xuống mức thấp nhất trong nhiều tháng qua cho thấy nhịp độ phục hồi kinh tế của Khu vực đồng euro sẽ chậm lại trong quý 3 năm nay.
Ông Chris Williamson, nhà kinh tế của Markit, cho rằng việc Khu vực đồng euro có thể mất đà tăng trưởng trong quý 3 cũng được phản ánh trong tốc độ tăng trưởng Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) chỉ đạt 1% trong quý 2. Tuy nhiên, những số liệu tăng trưởng khiêm tốn này còn che giấu nhiều diễn biến đáng lo ngại.
Nhà kinh tế của Ngân hàng J.P. Morgan Chase của Mỹ David Mackie, nhấn mạnh sự tăng trưởng của Khu vực đồng euro gần như hoàn toàn phụ thuộc vào tăng trưởng của hai nền kinh tế Pháp và Đức.
Cơ quan theo dõi thị trường của Đài Truyền hình CBS của Mỹ (CBS MarketWatch) cho biết tăng trưởng 1% của Khu vực đồng euro trong quý 2, mức tăng cao nhất trong một quý trong vòng ba năm qua, chủ yếu nhờ tăng trưởng 2,2% trong quý 2 của nền kinh tế Đức.
Tăng trưởng của các nước khác trong khu vực kinh tế này gần như đình trệ, thậm chí khu vực dịch vụ còn bị thu hẹp do chính sách khắc khổ mà các nước này đang thực hiện.
Tờ Nhật báo phố Wall (Wall Journal) của Mỹ cho biết hầu như không có dấu hiệu nào cho thấy các nền kinh tế yếu kém hơn ở Khu vực đồng euro sẽ đạt mức tăng trưởng khả quan như Đức và Pháp.
Hãng xếp hạng tín dụng quốc tế Moody’s của Mỹ cho biết Khu vực đồng euro sẽ bị đánh tụt hạng về tín dụng do mất đà tăng trưởng kinh tế./.
Khu vực Đông Nam Á đang hấp dẫn các nhà đầu tư
Với triển vọng kinh tế phát triển nhanh, cùng các luật lệ đầu tư thông thoáng tại các quốc gia Đông Nam Á, các nhà đầu tư quốc tế đang hướng sự chú ý nhiều hơn tới khu vực này.
Trên tờ nhật báo The Telegraph của Anh mới đây có một bài phản ánh về tình hình kinh tế châu Á. Bài báo đã nêu một loạt số liệu thống kê rất khả quan về tăng trưởng của các quốc gia Đông Nam Á. Theo đó, trong năm 2010, Singapore sẽ đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế kỷ lục là 15%, tiếp đó là Malaysia 7%, Indonesia 6,6% và Philippines 6%.
Sau cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu 2008-2009, một số quốc gia Đông Nam Á đã phục hồi nhanh chóng. Khu vực này cũng ngày càng trở nên hấp dẫn giới đầu tư trong bối cảnh Việt Nam và Thái Lan đang vươn lên bên cạnh những nền kinh tế được đánh giá là phát triển trong khu vực như Singapore.
Theo nhật báo trên, các quỹ đầu tư quốc gia và các nhà đầu tư riêng lẻ hiện đều muốn chọn châu Á và Đông Nam Á để tăng cường đầu tư bởi khả năng đạt lợi nhuận cao. Năm ngoái, Quỹ đầu tư Fidelity đã dành tới 25% đầu tư cho khu vực Đông Nam Á, trong khi các Quỹ Aberdeen và First State lần lượt dành 35% và 25% đầu tư vào khu vực.
Một số nhà đầu tư mạo hiểm tập trung đầu tư ở duy nhất một quốc gia. Tuy nhiên, nhiều nhà tư vấn tài chính cho rằng góp vốn vào các quỹ đầu tư liên châu Á, xuyên quốc gia sẽ thu lợi nhuận tốt hơn nhờ thị trường đa diện và có thể bổ sung lẫn nhau của các quốc gia trong khu vực.
Các chuyên gia kinh tế cho rằng Đông Nam Á trở nên hấp dẫn đối với giới đầu tư bởi các quốc gia trong khu vực này có cơ cấu vĩ mô khá cân đối, tốc độ đô thị hóa nhanh, nhu cầu phát triển hạ tầng cơ sở cao, thị trường rộng lớn với tầng lớp trung lưu đang phát triển và ngày càng chi tiêu nhiều hơn. Dân số của các quốc gia Đông Nam Á khá trẻ, thành phần lao động có tay nghề cũng là một lợi thế hấp dẫn đầu tư.
Một ví dụ điển hình về sự hấp dẫn đầu tư quốc tế trong khu vực Đông Nam Á là Indonesia. Nền kinh tế lớn nhất Đông Nam Á này hy vọng sẽ vượt qua mức tăng trưởng kinh tế ấn tượng trong năm nay để đạt tới mức tăng 8% vào năm 2011. Với hơn 55% dân số dưới 30 tuổi, Indonesia có thể sớm trở thành nền kinh tế đang nổi lên theo sát Nhóm BRIC (gồm Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc).
Chính vì vậy, Hãng điện tử LG của Hàn Quốc và Tập đoàn Caterpillar của Mỹ gần đây đã coi Indonesia là nơi có những điều kiện thuận lợi để xây dựng các trung tâm sản xuất lớn của họ tại Đông Nam Á.
Ông Hugh Young, Giám đốc Quỹ đầu tư Aberdeen tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương dự báo các nền kinh tế châu Á, trong đó có các nền kinh tế đang phát triển ở Đông Nam Á, sẽ tăng cường khả năng tìm kiếm các nguồn cung, cầu nội địa và cần tiếp tục tăng trưởng nhanh trong cả giai đoạn ngắn hạn lẫn dài hạn./.
ISO dự báo thế giới thặng dư đường trong vụ 2010/11 và sản lượng của Ấn Độ tăng
Tổ chức Đường Quốc tế (ISO) vừa đưa ra dự báo thế giới sẽ thặng dư đường trong niên vụ 2010/11 do sản lượng tại Ấn Độ tăng và nước này sẽ chuyển từ quốc gia tiêu thụ đường lớn nhất thế giới sang quốc gia xuất khẩu.
Báo cáo hàng quý về triển vọng thị trường của ISO công bố ngày 25/8 cho thấy, sau 2 năm thiếu hụt nghiêm trọng, thị trường đường thế giới đang đối mặt với một vụ mùa mà sản lượng sẽ vượt nhu cầu.
ISO dự báo, thị trường đường sẽ thặng dư 3,22 triệu tấn trong niên vụ 2010/11 (tháng 10/2010 – tháng 9/2011), so với mức thiếu hụt 4,95 triệu tấn niên vụ hiện nay.
Sản lượng đường sẽ tăng hơn 7% lên 170,38 triệu tấn và tiêu thụ sẽ tăng chậm hơn, chỉ khoảng 2% lên 167,15 triệu tấn.
Sản lượng tăng mạnh, theo ISO là bởi Ấn Độ. Trong niên vụ tới, Ấn Độ có thể xuất khẩu 945.000 tấn đường, so với mức nhập khẩu ròng 3,3 triệu tấn của niên vụ hiện nay.
Xuất khẩu đường thô thế giới sẽ vượt qua nhập khẩu khoảng 1,9 triệu tấn, trong khi cung cầu đường trắng sẽ ở mức tương đối cân bằng.
Mỹ giữ nguyên thuế chống bán phá giá tôm của bốn quốc gia
Bộ Thương mại Mỹ vừa tuyên bố giữ nguyên mức thuế chống bán phá giá áp cho tôm nước ấm nhập khẩu từ Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ và Braxin.
Theo đó, mức thuế chống bán phá giá áp cho các công ty khác (không phải là bị đơn bắt buộc và không nằm trong diện xem xét hành chính) của Thái Lan là 5,34%; Trung Quốc là 112,81%, Ấn Độ là 10,17% và Braxin là 7,05%. Ngoài ra, một số công ty của Ấn Độ còn chịu mức thuế riêng từ 4,94% - 82,27%; Thái Lan từ 5,34% - 67,8%. Đây là kết quả rà soát 5 năm thuế chống bán phá giá, bắt đầu từ năm 2005 sau khi các nhà chế biến và sản xuất tôm Mỹ phàn nàn việc các nhà cung cấp ở bốn quốc gia trên bán sản phẩm với giá thấp hơn giá thị trường.
Kết quả rà soát thuế chống bán phá giá đối với tôm nhập khẩu từ Việt Nam dự kiến sẽ được công bố riêng vào tháng 7 tới đây. Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) nhận định sẽ không có nhiều hy vọng để bộ Thương mại Mỹ rút Việt Nam ra danh sách bị áp thuế chống phá giá trong lần rà soát này. Hiện mức thuế chống bán phá giá cuối cùng đối với các nhà xuất khẩu tôm Việt Nam đang được ấn định từ 4,13% đến 25,76%.
ICO: Giá cà phê sẽ vững ở mức cao bởi cung hiếm
Hãng tin Dow Jones Newswires dẫn lời của người đứng đầu Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO) cho thấy, giá cà phê sẽ vững ở mức cao bởi cung khan hiếm cho dù giá sụt giảm mạnh trong tuần này và hiện đang ở mức thấp nhất của 10 tuần ở loại robusta.
Nestor Osorio, giám đốc điều hành của ICO cho biết, dự trữ cà phê hiện đang rất thấp và nguồn cung trước mắt vẫn rất khan hiếm nên giá sẽ duy trì ở mức cao trong vài tuần tới.
Số liệu từ ICO cho thấy trong tháng 6, xuất khẩu cà phê thế giới đã giảm 14% xuống còn 7,8 triệu bao. Cho dù nguồn cung của Braxin dự kiến sẽ rất cao trong năm nay nhưng ông Osorio cho rằng trong ngắn hạn nguồn cung sẽ chỉ đáp ứng được nhu cầu.
Giá cà phê trên thị trường đã giảm mạnh trong tuần này sau khi tăng mạnh vài tuần gần đây. Giá cà phê robusta giao tháng 9 tại Liffe trong phiên 25/8 còn 1.539 USD/tấn - thấp chưa từng có kể từ giữa tháng 6, trong khi cà phê arabica tại ICE giảm xa khởi mức cao của gần 13 năm xuống còn 163,65 cent/lb.
Sự sụt giảm đến sau khi thông tin cho thấy sản lượng của Braxin đang rất lạc quan, có thể lên tới 54,6 triệu bao trong vụ 2010/11, và sẽ vượt xa so với mức kỷ lục 48,8 triệu bao thiết lập trong
Việt Nam, quốc gia xuất khẩu cà phê robusta lớn nhất thế giới, đã xuất khẩu 85.000 tấn cà phê trong tháng 8 này, tăng 57% so với cùng tháng năm trước. Tuy nhiên ông Osorio vẫn cho rằng xuất khẩu cả hai loại cà phê robusta và arabica sẽ vẫn ở mức thấp trong tháng tới do nguồn cung khan hiếm.
Xuất khẩu cao su Thái Lan sẽ ổn định trong năm 2011
Theo nguồn tin Reuters, xuất khẩu cao su Thái Lan năm 2011 được dự kiến sẽ ổn định ở mức của năm nay bởi chính sách thuế xuất khẩu mới được áp dụng sẽ đẩy giá cao su nội địa tăng lên, làm giảm sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Chủ tịch Hiệp hội Cao su Thái Lan, Luckchai Kittipol, dự báo xuất khẩu năm tới sẽ ở mức khoảng 2,8 triệu tấn.
Theo ông, khách hàng có thể sẽ chuyển sang những nguồn cung cấp lớn khác trong khu vực mà có giá cạnh tranh hơn, như Indonexia và Malaysia – hai nước sản xuất lớn thứ 2 và 3 thế giới sau Thái Lan.
Thái Lan - nước xuất khẩu cao su lớn nhất thế giới, đã xuất khẩu 1,6 triệu tấn cao su từ đầu năm tới nay, tăng nhẹ so với 1,5 triệu tấn cùng kỳ năm ngoái. Năm 2009, Thái Lan xuất khẩu 2,7 triệu tấn cao su.
Thuế mới sẽ áp dụng từ ngày 1/10/2010. Theo ông Luckchai, với thuế này, giá cao su Thái Lan sẽ tăng khoảng 3% so với mức khoảng 3,3 – 3,5 USD/kg hiện nay. Mục tiêu của việc tăng thuế là nhằm khuyến khích ngành chế biến cao su và đẩy tăng tiêu thụ nội địa.
Cao su SMR20 của Malaysia và SIR20 của Indonexia hiện đang ở mức 3,15 USD/kg.
Theo quy chế mới, thuế sẽ là 3 Baht (0,095 USD)/kg nếu giá ở mức khoảng 80 – 100 Baht/kg, tức là như hiện nay. Nếu giá giảm xuống dưới mức đó, thuế sẽ là 2 Baht, còn trên đó sẽ là 5 Baht.
Mức thuế này tăng đáng kể so với mức hiện nay là 1,4 Baht/kg. Tiền thuế sẽ được bổ xung vào một quỹ có vai trò can thiệp vào thị trường cao su và hỗ trợ người trồng nếu giá trong nước giảm mạnh.
Mức giá tham khảo để tính thuế sẽ được Chính phủ công bố 2 tháng một lần. Do vậy các nhà xuất khẩu phải cẩn trọng khi đưa ra giá chào bán.
Giá cao su physical và kỳ hạn sẽ vững
Các thương gia nhận định xuất khẩu cao su Thái Lan trong quý cuối cùng của năm nay sẽ giảm mạnh bởi hầu hết khách hàng đã đặt mua trước khi bước sang tháng 10 để tránh bị đánh thuế.
Các nhà xuất khẩu Thái Lan hiện đang lưỡng lự không muốn bán hàng ra và không chắc chắn nên chào giá bao nhiêu để bù lại mức thuế tăng.
Ông Vorathep Wongsasuthikul thuộc Hiệp hội Mủ cao su Thái Lan cho biết: “Thuế sẽ làm giảm ít nhất 10% xuất khẩu cao su Thái Lan hàng tháng trong quý cuối năm nay, mà đó là mùa xuất khẩu cao điểm”.
Các thương gia cho biết xuất khẩu giảm (thường trung bình khoảng 200.000 tấn mỗi tháng) sẽ làm khan hiếm nguồn cung trên thị trường thế giới. Điều đó có thể đẩy giá cao su tăng lên, hoặc ít nhất cũng duy trì ở mức như hiện nay trong giai doạn cuối năm, đồng thời sẽ hậu thuẫn giá cao su physical cũng như cao su kỳ hạn tại Sở giao dịch hàng hoá Tokyo – nơi giá cao su được dùng tham khảo cho thị trường toàn cầu.
Giá tham chiếu cao su RSS3 của Thái Lan ngày 24/8 là 3,3 USD/kg, thấp hơn mức kỷlục cao 4,10 USD hồi tháng 4, khi hạn hán nghiêm trọng làm giảm sản lượng mủ.
Giá tham chiếu cao su kỳ hạn 6 tháng tại Tokyo đã lập kỷ lục cao của 21 tháng là 338,5 Yên (3,98 USD)/kg hồi tháng 4 do cung khan. Sáng 26/8 giá ở mức 293,2 yen/kg.
Ông Luckchai cho hay Chính phủ sẽ hỗ trợ đầu tư cho ngành sản xuất ô tô và lốp xe trong nước để khích lệ việc sử dụng cao su thiên nhiên, giảm xuất khẩu cao su nguyên liệu.
Sản lượng cao su Thái Lan dự báo sẽ tăng lên 3,3 triệu tấn trong năm 2011, so với khoảng 3 triệu tấn của năm nay, bởi loạt cây trồng mới từ năm 2004 (khoảng 160.000 hécta) sẽ cho thu hoạch vào năm tới.
Theo nguồn tin của Bộ Nông nghiệp Thái Lan, nước này đặt mục tiêu tăng trồng cao su thêm khoảng 128.000 hécta bắt đầu từ năm tới, sẽ cho thu hoạch vào năm 2017, khi đó sẽ nâng sản lượng lên khoảng 3,3 triệu tấn.
Thị trường cao su thế giới ngày 24/8: giá giảm ngày thứ 3
Giá cao su thiên nhiên đã giảm ngày thứ 3 liên tiếp do giá dầu thô giảm và lo ngại kinh tế toàn cầu tăng trưởng chậm lại sẽ làm giảm sức hấp dẫn đối với những hàng hoá tính theo tiền Yên.
Giá cao su kỳ hạn tại Tokyo giảm khỏi mức cao nhất của 3 tháng đạt được vào hôm 20/8 là 295,2 yen/kg (3.474 USD)/tấn.
Giá cao su kỳ hạn tại Tokyo hôm nay giảm 1,2%. Đồng Yên tăng giá so với hầu hết các đồng tiền của các đối tác trước khi có số liệu công bố mà các nhà phân tích dự báo là sẽ cho thấy thị trường nhà ở của Mỹ chậm lại và niềm tin của người kinh doanh Đức sụt giảm.
Việc giá dầu giảm 5 ngày liên tiếp cũng tác động tiêu cực tới thị trường cao su, làm giảm chi phí cao su tổng hợp - đối thủ cạnh tranh với cao su thiên nhiên.
Hợp đồng kỳ hạn tháng 1 tại Tokyo giảm 3,5 Yên xuống 285,8 yen/kg trước khi xác lập mức 288,3 yen.
Đồng yên leo lên mức cao nhất trong hơn 8 năm so với đồng euro, đồng USD leo lên mức cao nhất trong 6 tuần so với đồng euro bởi lo lắng kinh tế toàn cầu phục hồi chững lại khiến nhu cầu đối với tài sản có độ an toàn cao tăng lên.
Đồng yên và đồng USD tăng giá so với phần lớn các loại tiền tệ lớn trước thềm số liệu cho thấy đà phục hồi của thị trường nhà đất Mỹ chững lại và chỉ số niềm tin người tiêu dùng Đức đi xuống.
Phiên giao dịch ngày hôm nay trên thị trường Tokyo – Nhật, đồng yên giao dịch với đồng euro ở mức 107,22 yên/euro, mức cao nhất từ tháng 11/2001. Sau đó vào đầu giờ giao dịch tại thị trường London, đồng yên giao dịch với đồng euro ở mức 107,31 yên/euro từ mức 107,79 yên/euro tại thị trường New York phiên ngày hôm qua.
Đồng yên giao dịch với đồng USD ở mức 84,89 yên/USD từ mức 85,16 yên/USD sau khi chạm mức 84,86 yên/USD, mức cao nhất từ tháng 8/2010.
Trên thị trường giao ngay, giá cao su Thái lan không thay đổi ngày thứ 4 liên tiếp, ở mức 105,5 baht (3,35 USD)/kg.
Trên thị trường Thượng Hải, giá cao su kỳ hạn tháng 1 giảm 2,4% xuống 24.485 NDT (3.602 USD)/tấn.
Tiêu thụ hạt điều của Ấn Độ tăng
Ấn Độ, nhà xuất khẩu hạt điều lớn thứ 2 trên thế giới, đã chứng kiến sự trì trệ trong xuất khẩu mặt hàng này khi chỉ đạt 25.862 tấn, tăng 1,6% trong quý đầu năm tài chính 2010/11 so với cùng kỳ năm trước, bởi nhu cầu ở thị trường nội địa tăng mạnh trong khi nguồn cung khan hiếm.
Khối lượng xuất khẩu hạt điều của đất nước vẫn mờ nhạt trong suốt thời gian từ tháng 4 – 6, nhưng về giá trị có cải thiện hơn khi tăng 2,1% lên 713 triệu Rs so với 698 triệu Rs trong cùng kỳ năm ngoái.
Các nhà xuất khẩu phải giảm số lượng để đáp ứng nhu cầu trong nước. Tiêu thụ trong nước đạt khoảng 190.000 tấn mỗi năm, trong khi xuất khẩu chỉ đạt 110.000 tấn.
Theo cơ quan Xúc tiến xuất khẩu Ấn Độ (CEPCI), giá xuất khẩu đã tăng 4%/kg, ở mức 276 Rs/kg. Giá này thấp hơn 26% so với giá trong nước, giá trong nước hiện ở mức 375 Rs/kg.
“Các nhà xuất khẩu đang tìm cách thu lợi nhuận cao khi bán các sản phẩm của mình tại thị trường trong nước vì 2 lý do: thứ nhất, họ bán được giá cao và quay vòng vốn nhanh hơn; thứ 2, sự thiếu hụt hạt thô đã làm cho các nhà xuất khẩu hạn chế trong việc chế biến,” ông Pankaj Sampath, nhà xuất khẩu tại Mumbai cho biết.
Hiện Ấn Độ sản xuất khoảng 500.000 tấn hạt điều thô mỗi năm, trong khi phải nhập khẩu 700.000 tấn để chế biến lấy nhân trước khi xuất khẩu. Sau khi chế biến, còn lại được khoảng 300.000 tấn hạt, trong đó 110.000 tấn được xuất khẩu. CEPCI hy vọng xuất khẩu sẽ tăng trưởng 5% trong năm tại chính hiện tại.
TT TT CN & TM