Nhập từ khóa...Tìm kiếm
Tin Ngoài tỉnh
Sản xuất kinh doanh 21/7/2010 
21/07/2010 
 

    Vận hành không tải tổ máy số 1 Thuỷ điện Sê Rê Pốc 3

    Sau hơn chục ngày vận hành không tải, tổ máy số 1 của công trình thuỷ điện này sẽ chính thức phát điện lên lưới điện quốc gia.

    9 h sáng 17/6, tổ máy số 1 công suất 110 MW của công trình Thuỷ điện Sê Rê Pốc 3 đã vận hành không tải. Sau hơn chục ngày vận hành không tải, tổ máy số 1 của công trình thuỷ điện này sẽ chính thức phát điện lên lưới điện quốc gia.

    Công trình thuỷ điện Sê Rê Pốc 3 với 2 tổ máy có công suất 220 MW được xây dựng tại bậc tháng thứ 3 trên sông Sê Rê Pốc thuộc địa bàn xã Ea Nhol (huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk) và xã Ea Pô (huyện Cư Jút-Đắk Nông). Tổng công ty xây dựng Trường Sơn (Bộ Quốc phòng) là tổng thầu xây dựng công trình. Sau hơn 4 năm tập trung thi công, công trình thuỷ điện đã cơ bản hoàn thành xây dựng các hạng mục với chất lượng bảo đảm. Sau khi đưa tổ máy số 1 vào hoạt động, Công ty cổ phần lắp máy 10 (Tổng công ty lắp máy Lilama) tiếp tục lắp đặt các thiết bị kỹ thuật của Stato và Roto của tổ máy số 2. Với tinh thần làm việc khẩn trương, ban điều hành xây dựng thuỷ điện Sê Rê Pốc 3 phấn đấu đến tháng 9/2010 sẽ đưa tổ máy số 2 vào vận hành./.

 

    Quy hoạch 16.000 MW cho điện hạt nhân 
    Định hướng quy hoạch phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam từ nay đến năm 2030 đã được Chính phủ phê duyệt với tổng công suất dự kiến từ 15.000 MW đến 16.000MW.

    Quyết định số 906 mà Chính phủ mới công bố cho biết, quy hoạch định hướng điện hạt nhân được chia làm 3 giai đoạn. Giai đoạn đầu từ nay đến năm 2015 hoàn thành phê duyệt dự án đầu tư, phê duyệt địa điểm, tổ chức lựa chọn nhà thầu, chuẩn bị đội ngũ cán bộ quản lý dự án và các chuyên gia kỹ thuật nòng cốt để đáp ứng yêu cầu khởi công xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên.

    Theo Nghị quyết đã được Quốc hội thông qua cuối năm 2009, dự án nhà máy điện hạt nhân thứ nhất (còn gọi là dự án nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1) đặt tại xã Phước Dinh, Ninh Thuận sẽ khởi công năm 2014 .

    Giai đoạn 2 của quy hoạch là hoàn thành xây dựng và đưa vào vận hành thương mại tổ máy thứ nhất (năm 2020), tổ máy thứ hai vận hành năm 2021. Đồng thời, Chính phủ chuẩn bị điều kiện khởi công xây dựng Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 2 (xã Vĩnh Hải, tỉnh Ninh Thuận), công suất tương đương nhà máy điện Ninh Thuận 1 và chuẩn bị địa điểm cho việc xây dựng các nhà máy điện hạt nhân tiếp theo.

    Giai đoạn 3 (đến năm 2030) là triển khai xây dựng các nhà máy điện hạt nhân khác, đưa điện hạt nhân thành một trong những nguồn năng lượng chủ lực của đất nước. Đây cũng là giai đoạn mà mục tiêu của Việt Nam là làm chủ công nghệ thiết kế nhà máy điện hạt nhân và có khả năng tham gia thiết kế cùng với các đối tác nước ngoài.

    Các ngành công nghiệp trong nước tham gia vào các công trình nhà máy điện hạt nhân với giá trị hợp đồng chiếm từ 30 - 40% tổng giá trị xây lắp công trình.

    Cũng theo lộ trình của quy hoạch, đến năm 2025, tổng công suất các nhà máy điện hạt nhân khoảng 8.000 MW, sẽ tăng lên 15.000 MW vào năm 2030. Con số này chiếm khoảng 10% tổng công suất nguồn điện.

    Để đáp ứng chương trình phát triển các nhà máy điện hạt nhân, định hướng quy hoạch 8 địa điểm xây dựng điện hạt nhân được lập ra tại 5 tỉnh Ninh Thuận, Bình Định, Phú Yên, Hà Tĩnh và Quảng Ngãi, mỗi địa điểm có khả năng xây dựng từ 4 đến 6 tổ máy.

Tới năm 2030, điện hạt nhân trở thành một trong những nguồn năng lượng chủ lực của Việt Nam.

 

    1,2 tỷ USD phát triển công nghiệp sản xuất thiết bị chế biến nông-lâm-thuỷ sản

    Theo Quy hoạch phát triển công nghiệp sản xuất thiết bị chế biến nông-lâm-thuỷ sản giai đoạn đến năm 2015, có xét đến năm 2025 vừa được Bộ Công Thương phê duyệt, tổng vốn đầu tư cho cả thời kỳ đến năm 2025 khoảng 20.955 tỷ đồng, tương đương 1,2 tỷ USD. Trước mắt giai đoạn đến 2015 vốn đầu tư cần khoảng 3.615 tỷ đồng. 
    Dự kiến nguồn vốn đầu tư được thu xếp từ các nguồn: tín dụng ưu đãi, vốn tự thu xếp của các doanh nghiệp tư nhân, vốn hỗ trợ của Nhà nước cho chuyển giao công nghệ, xúc tiến thương mại, đào tạo nhân lực... Đặc biệt, Bộ Công Thương sẽ ưu tiên nguồn Quỹ khuyến công cho các doanh nghiệp cơ khí chế tạo thiết bị chế biến nông-lâm-thuỷ sản. 
    Với nguồn vốn trên, việc sản xuất các thiết bị chế biến nông-lâm-thuỷ sản sẽ được ưu tiên đưa vào chương trình xây dựng và phát triển thương hiệu hàng năm. Các doanh nghiệp không chỉ được hỗ trợ kinh phí để xây dựng các tiêu chuẩn chất lượng quốc tế mà còn lựa chọn một số sản phẩm mũi nhọn để có kế hoạch nhập mẫu, chế tạo thử nghiệm, tiến tới sản xuất; xây dựng các Trung tâm trình diễn cơ khí hoá nông nghiệp. 
    Quy hoạch ưu tiên đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao, thân thiện với môi trường và tiêu tốn ít tài nguyên vật chất nhằm tạo nên sản phẩm có chất lượng và giá cả cạnh tranh. Doanh nghiệp trong nước chế tạo thiết bị chế biến nông-lâm-thuỷ sản được hỗ trợ từ nguồn vốn của Quỹ hỗ trợ phát triển khoa học công nghệ quốc gia đối với các chi phí chuyển giao công nghệ, mua bản quyền thiết kế, mua phần mềm, thuê chuyên gia nước ngoài, đào tạo nguồn nhân lực.

    Dự án sản xuất thiết bị chế biến nông-lâm-thuỷ sản sử dụng vốn Nhà nước được xem xét và cho áp dụng hình thức chỉ định thầu hoặc giao thầu theo quy định của pháp luật. 
    Các sản phẩm chủ lực được lựa chọn sản xuất theo quy hoạch tập trung vào các thiết bị chế biến lúa gạo, sắn, cà phê phê, cao su, chè, mía đường, điều, thức ăn chăn nuôi, sản xuất còn nhiên liệu, chế biến ván nhân tạo, chế biến thuỷ sản. Đó là máy phân loại hạt cà phê, gạo, điều nhân công suất 3-5 tấn/giờ; máy xát trắng gạo và máy đánh bóng gạo công suất 4-6 tấn/giờ, máy ly tâm tách bã sắn 80-100 m3/giờ, dây chuyền chế biến cà phê ướt công suất 4-10 tấn/giờ, máy rang cà phê và máy sấy phun cà phê hoà tan, hệ thống thiết bị cắt tách vỏ cứng hạt điều công suất 1 tấn/giờ, dây chuyền thiết bị chế biến thức ăn chăn nuôi công suất 150 tấn/ngày, băng tải và tấm tải cho thiết bị cấp đông siêu tốc thuỷ sản.../.

 

    Thu mua 40.000 tấn muối tồn đọng 
    Việc thu mua sẽ được tiến hành từ ngày 23.6.2010, do Tổng công ty lương thực miền bắc thực hiện. Giá thu mua muối sẽ dựa vào giá thị trường.

    Hôm nay 22.6, Thứ trưởng bộ Nông nghiệp & phát triển nông thôn Hồ Xuân Hùng đã đến tỉnh Bạc Liêu làm việc về vấn đề diêm dân lao đao vì tồn đọng hàng trăm ngàn tấn muối do giá thấp và không có thương lái thu mua.

    Sau khi khảo sát các cánh đồng đầy muối ở huyện Đông Hải và huyện Hòa Bình tỉnh Bạc Liêu, Thứ trưởng đã tuyên bố sẽ thu mua khoảng 40.000 tấn muối để giải quyết khó khăn trước mắt cho người dân. Việc thu mua sẽ được tiến hành từ ngày 23.6.2010, do Tổng công ty lương thực miền bắc thực hiện. Giá thu mua muối sẽ dựa vào giá thị trường.

    Ông Phan Minh Quang, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp & phát triển nông thôn tỉnh Bạc Liêu đề nghị: “Diêm dân Bạc Liêu cần được hỗ trợ nhiều hơn về đầu ra, về vốn và kĩ thuật. Đề nghị Bộ Nông nghiệp & phát triển nông thôn cùng các cơ quan trung ương cân nhắc hơn trong vấn đề nhập muối, nhằm ổn định lượng cung cầu muối, không để tình trạng dư thừa như hiện nay. Đồng thời đề nghị có chính sách và các giải pháp để giải bài toán được mùa mất giá như hiện nay”.

    Đồng thời với việc thu mua ngay 40.000 tấn muối, Thứ trưởng cũng chỉ đạo cần xây dựng ngay một khu dự trữ muối 16.000 tấn tại huyện Đông Hải. Về lâu dài, cần có các dự án gắn sản xuất với vùng nguyên liệu muối Bạc Liêu nói riêng, và cả nước nói chung, hướng đến sự phát triển ổn định, bền vững của ngành muối Việt Nam.

 

    Sáu tháng đầu năm, tăng trưởng kinh tế trên 6%

    Ước sáu tháng đầu năm, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) đạt khoảng 6-6,1% (quý 1 tăng 5,83%, quý 2 tăng khoảng 6,2-6,4%); trong đó, khu vực nông lâm thủy sản tăng 2,7-3,2%; công nghiệp và xây dựng tăng 6-6,7%, dịch vụ tăng 6,8-7,2%.

    Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính chung sáu tháng đầu năm, giá trị sản xuất công nghiệp ước đạt 366,8 nghìn tỷ đồng, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, khu vực kinh tế ngoài nhà nước tăng 12,6%, chiếm tỷ trọng 35,5% toàn ngành; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 17,5%, chiếm tỷ trọng 42% toàn ngành.

    Các sản phẩm đạt mức tăng trưởng cao hơn mức tăng trưởng chung của toàn ngành là điện sản xuất tăng 15,5%; khí đốt thiên nhiên dạng khí tăng 16,5%; khí hóa lỏng tăng 94,5% (do có thêm sản phẩm của nhà máy lọc dầu Dung Quất); điều hòa nhiệt độ tăng 27,2%; vật liệu xây dựng như kính tăng 30,3%; gạch xây bằng đất nung 14,4%, xe máy tăng 29,8% so với cùng kỳ năm 2009.

    Nhận xét về tăng trưởng công nghiệp sáu tháng đầu năm, các chuyên gia kinh tế cho biết tốc độ tăng trưởng đạt cao hơn mức kế hoạch năm 2010; trong đó, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng ngày càng cao và có tốc độ tăng cao, khu vực ngoài nhà nước có mức tăng cao hơn kế hoạch toàn ngành (12%) nhưng thấp hơn tăng trưởng chung ngành công nghiệp (13,8%), trong khi khu vực kinh tế nhà nước có tốc độ tăng thấp hơn mức kế hoạch toàn ngành.

Các sản phẩm có tốc độ tăng trưởng cao bao gồm năng lượng, các sản phẩm phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, vật liệu xây dựng và cơ khí ôtô.

    Cùng với sự phục hồi của kinh tế thế giới, giá cả nhiều mặt hàng xuất khẩu được cải thiện góp phần vào sự tăng trưởng xuất khẩu của sáu tháng đầu năm. Tính đến hết tháng Sáu, ước tính có 9 mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch trên 1 tỷ USD là thủy sản, gạo, dầu thô, gỗ và sản phẩm gỗ, dệt may, giày dép, máy móc thiết bị phụ tùng, điện tử và máy tính, đá quý, kim loại quý và sản phẩm.

    Các thị trường xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam là Mỹ, ASEAN, EU, Nhật Bản, Trung Quốc.
Kim ngạch xuất khẩu sáu tháng đầu năm ước đạt 32,1 tỷ USD, tăng 15,7%, trong đó kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) đạt 14,6 tỷ USD, tăng 39,5% so với cùng kỳ năm 2009.

    Trong sáu tháng qua, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam ước đạt 38,9 tỷ USD, tăng hơn 29% so với cùng kỳ năm ngoái. Ước nhập siêu tháng Sáu là 1,2 tỷ USD, chiếm 20% kim ngạch xuất khẩu.

    Kinh tế phục hồi nên tổng mức bán lẻ sáu tháng qua có mức tăng khá cao 26,7% so với cùng kỳ năm ngoái. Bên cạnh đó, đầu tư phát triển tiếp tục có chuyển biến tích cực.
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội sáu tháng đầu năm ước đạt 337.000 tỷ đồng, bằng 43,5% GDP, trong đó vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước đạt 51.000 tỷ đồng, bằng 47% so với kế hoạch năm, trái phiếu Chính phủ đạt 21.000 tỷ đồng.

    Cuộc họp đã lắng nghe các ý kiến của các bộ, ngành và địa phương về các hiệu quả tích cực của các giải pháp kích cầu đầu tư và tiêu dùng của Chính phủ cũng như những vấn đề còn khó khăn và hạn chế trong việc thực hiện kế hoạch đầu tư từ nguồn vốn ngân sách cũng như các chương trình dự án thuộc các nguồn vốn khác.

    Theo đánh giá chung, việc giải ngân các nguồn vốn vẫn chậm so với kế hoạch và đây là một trong những trọng tâm cần phải nỗ lực đẩy mạnh hơn nữa trong sáu tháng cuối năm; cùng với đó là quan tâm xử lý những khó khăn làm ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân trên địa bàn.

    Tại cuộc họp, các bộ, ngành và địa phương đã nhấn mạnh tới một số giải pháp cần thực hiện trong thời gian tới, trong đó có việc tập trung vào một số giải pháp thúc đẩy sản xuất và giải ngân kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản thuộc các nguồn vốn nhà nước (ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ, tín dụng ưu đãi nhà nước...).

    Các giải pháp nhằm tiếp tục thu hút và đẩy nhanh tiến độ giải ngân các nguồn vốn FDI và ODA, đẩy nhanh thực hiện các dự án quan trọng cấp bách, các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, các dự án có giá trị xuất khẩu lớn, những dự án giải quyết nhiều việc làm./.

 

    WB phê duyệt khoản tín dụng 200 triệu USD cho Dự án Tài chính Nông thôn III

    Ngày 23/6, Ngân hàng Thế giới (WB) cùng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) phối hợp tổ chức hội nghị tổng kết việc thực hiện Dự án Tài chính nông thôn II. Đánh giá Việt Nam là nước triển khai thành công nhất mô hình Dự án tài chính nông thôn trên thế giới nên  WB đã phê duyệt khoản tín dụng trị giá 200 triệu USD cho Dự án Tài chính Nông thôn III. BIDV tiếp tục được WB giao quản lý và thực hiện Dự án quan trọng này.

    Trước đó, Dự án Tài chính nông thôn II có số vốn vay WB tương đương 235 triệu USD, thông qua 25 định chế tài chính tham gia để cho vay tới người dân khu vực nông thôn ở 60 tỉnh, thành trên khắp cả nước với mục tiêu tiếp tục hỗ trợ Việt Nam trong công cuộc xoá đói giảm nghèo và phát triển bền vững khu vực nông thôn. Hiệp định Tín dụng vay vốn cho Dự án được ký kết ngày 9/9/2002, có hiệu lực từ ngày 14/4/2003. Dự án kết thúc thời gian thực hiện ngày 30/9/2009. Qua 6 năm, dự án đã tài trợ cho hơn 444.000 khoản vay, tạo ra trên 250.000 việc làm mới trải rộng ở 60/64 tỉnh của cả nước. 
    Mục tiêu tổng thể của các Dự án là hỗ trợ Việt Nam tăng cường phát triển kinh tế nông thôn kết hợp với xoá đói giảm nghèo và cải thiện điều kiện sống của người dân ở khu vực nông thôn thông qua các hoạt động, tăng cường năng lực của hệ thống ngân hàng để phục vụ tốt hơn cho kinh tế nông thôn; và tăng cường khả năng tiếp cận của người nghèo nông thôn đến các dịch vụ tài chính./.

 

    WB cho vay thêm 456,5 triệu USD

    Ngân hàng Thế giới hôm nay 25/6 đã phê duyệt bốn khoản tín dụng trị giá 456,5 triệu USD nhằm hỗ trợ các nỗ lực phát triển của Việt Nam, đưa tổng số vốn của WB cho Việt Nam vay trong năm tài chính này lên 2,13 tỷ USD.

    Các khoản tín dụng này hỗ trợ các nước nhằm giảm nghèo thông qua việc cấp tín dụng không lãi và tài trợ không hoàn lại cho các chương trình thúc đẩy phát triển kinh tế, giảm bất bình đẳng và cải thiện đời sống người dân.

    Khoản tín dụng thứ nhất là Dự án Các Trường Đại học Kiểu Mới (180 triệu USD), nhằm thiết lập và thí điểm một khuôn khổ chính sách mới cho việc quản trị, tài chính và bảo đảm chất lượng của trường đại học mô hình mới. Điều này giúp Việt Nam phát triển mô hình hệ thống giáo dục đại học có tính sáng tạo, chất lượng cao cũng như hướng tới phát triển các kỹ năng đáp ứng thị trường cho thanh niên khi bước vào thị trường lao động.

    Bà Victoria Kwakwa, Giám đốc WB tại Việt Nam cho rằng, phát triển con người là một trong ba lĩnh vực then chốt Việt Nam cần tập trung trong chiến lược 10 năm tới. Hệ thống giáo dục đại học hiện đại cần đóng góp trực tiếp vào trụ cột này, thông qua nâng cao chất lượng giáo dục đại học để sinh viên tốt nghiệp sẽ có những kiến thức và kỹ năng đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động.

    Khoản tín thứ hai là Tín dụng Hỗ trợ Giảm Nghèo lần thứ 9 (150 triệu USD), giúp Việt Nam thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế và xã hội. Khoản này cũng giúp Việt Nam chuyển đổi từ một nền kinh tế quá độ lên một nước có thu nhập trung bình.

    Khoản tín dụng 100 triệu USD khác sẽ hỗ trợ các cơ quan Chính phủ Việt Nam nâng cao năng lực lập kế hoạch và chuẩn bị dự án đầu tư công hiệu quả hơn, bảo đảm tuân thủ theo các tiêu chuẩn quốc tế. Một quỹ chuẩn bị dự án cũng được thành lập và sử dụng để lập kế hoạch khả thi, thiết kế chi tiết và mua sắm cho các dự án ở tất cả các lĩnh vực phát triển.

Và cuối cùng, khoản tín dụng trị giá 26,5 triệu USD được bổ sung cho Dự án Tăng cường hiệu quả hệ thống điện, cổ phần hóa và năng lượng tái tạo. Dự án này đã tăng cường hiệu quả hệ thống truyền tải điện và điện khí hóa nông thôn và góp phần cải cách ngành điện. Khoản vốn bổ sung này cũng được dùng để trang trải cho một số chi phí phát sinh, và nhân rộng ảnh hưởng của dự án đối với những cải cách trong ngành./.