Cấm nhập khẩu đối với xe ô tô đã bị đục sửa số khung, số máy
Thủ tướng Chính phủ vừa có công văn số 1046/TTg-KTTH đồng ý với ý kiến của các Bộ Công thương, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan về việc nhập khẩu ô tô đã bị đục sửa số khung, số máy.
Theo đó, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu cấm nhập khẩu dưới mọi hình thức đối với xe ô tô các loại chưa qua sử dụng, nhưng đã bị đục sửa, đóng lại số khung số máy từ nước ngoài.
Thời gian qua, đã xảy ra tình trạng nhập khẩu ô tô nguyên chiếc chưa qua sử dụng nhưng đã bị đục sửa, đóng lại số khung, số máy nước ngoài. Đây thực chất là hành vi gian lận trong thương mại quốc tế. Do vậy, các cơ quan chức năng không làm thủ tục thông quan số xe đã nhập khẩu về cảng Việt Nam. Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Công thương và Tổng cục Hải quan kiểm tra, làm rõ (kể cả làm việc với các nhà sản xuất, cung ứng phương tiện nước ngoài khi cần thiết) và kiến nghị biện pháp xử lý hành vi liên kết gian lận thương mại (có thể tạm ngừng hoạt động nhập khẩu ô tô của doanh nghiệp có vi phạm, hạn chế thương nhân nước ngoài có vi phạm bán xe ô tô vào Việt Nam), yêu cầu báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 31/10/2010.
Sẽ hoàn ngay 90% thuế giá trị gia tăng hàng xuất khẩu
Theo thông tư 94/2010/TT-BTC vừa được Bộ Tài chính ban hành, kể từ ngày 14/08/2010, tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng hóa xuất khẩu trong thời gian chưa được phía nước ngoài thanh toán qua ngân hàng theo hợp đồng xuất khẩu đều được tạm hoàn 90% số thuế giá trị gia tăng (GTGT) đầu vào theo đề nghị hoàn thuế của người nộp thuế (trừ một số trường hợp phải kiểm tra trước khi hoàn thuế).
Để giải quyết hoàn thuế kịp thời cho người nộp thuế (bao gồm cả trường hợp “hậu kiểm”), trong quá trình kiểm tra hồ sơ hoàn thuế, nếu cơ quan thuế xác định số thuế đủ điều kiện được hoàn, Bộ Tài chính cũng yêu cầu cơ quan thuế giải quyết tạm hoàn số thuế đã đủ điều kiện hoàn, không chờ xác minh toàn bộ hồ sơ mới thực hiện hoàn thuế. Đối với số thuế cần kiểm tra, xác minh, cơ quan thuế sẽ yêu cầu người nộp thuế giải trình, bổ sung hồ sơ thì xử lý hoàn thuế khi có đủ căn cứ.
Cũng theo thông tư này, các trường hợp không được tạm hoàn thuế GTGT gồm người nộp thuế đề nghị hoàn thuế lần đầu; người nộp thuế có hành vi trốn thuế, gian lận về thuế trong thời hạn 2 năm tính từ thời điểm đề nghị hoàn thuế trở về trước; người nộp thuế sáp nhập, hợp nhất, chia tách, giải thể, phá sản…
Tăng giám sát tài chính với doanh nghiệp nhà nước
Thủ tướng yêu cầu Bộ Tài chính tăng cường kiểm tra, giám sát về tài chính đối với doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, đặc biệt là các tập đoàn, tổng công ty nhà nước, phát hiện xử lý và cảnh báo về việc chấp hành chính sách pháp luật về tài chính và khả năng mất cân đối tài chính của doanh nghiệp.
Nội dung này được nêu trong thông báo của Văn phòng Chính phủ về ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại cuộc họp Thường trực Chính phủ về tình hình chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; về cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và tình hình tài chính, hoạt động sản xuất, kinh doanh của các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước đặc biệt quan trọng trong sáu tháng đầu năm 2010.
Tại cuộc họp đã diễn ra ngày 17/6 tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng yêu cầu Bộ Tài chính kiểm soát chặt chẽ việc các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, doanh nghiệp nhà nước giữ quyền chi phối, đầu tư vào các ngành nghề có liên quan đến ngành, nghề chính, ngành nghề khác, đặc biệt là đầu tư vào lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, bất động sản.
Bộ Tài chính tăng cường năng lực cho Cục Tài chính doanh nghiệp để bảo đảm thực hiện được chức năng này.
Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Kế hoạch và Đầu tư tăng cường chức năng kiểm tra, giám sát, quản lý nhà nước về lĩnh vực đầu tư, ngành nghề kinh doanh, cơ cấu sản xuất... đối với doanh nghiệp 100% vốn nhà nước.
Cùng với đó, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội phải tăng cường kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện chính sách lao động, tiền lương đối với doanh nghiệp 100% vốn nhà nước; khẩn trương nghiên cứu trình Chính phủ đề án “Đổi mới quản lý tiền lương, tiền thưởng trong tập đoàn, tổng công ty nhà nước và chế độ tiền lương, tiền thưởng đối với người quản lý phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp có vốn nhà nước.”
Trong tháng Bảy, Bộ Nội vụ nghiên cứu trình Thủ tướng Chính phủ cơ chế cử người và quản lý người đại diện phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước; đồng thời tăng cường công tác quản lý nhân sự lãnh đạo doanh nghiệp.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương, Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước tăng cường thực hiện chức năng giám sát của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn nhà nước.
Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp có nhiệm vụ chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương xây dựng chương trình cải cách, đổi mới, tiến độ sắp xếp doanh nghiệp nhà nước 5 năm (2011-2015), trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo hướng tiếp tục duy trì, sắp xếp, đổi mới và phát triển các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước mạnh; thực hiện cổ phần hóa những doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn; bán phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp mà Nhà nước không cần giữ cổ phần chi phối.
Đồng thời, Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan trình Thủ tướng Chính phủ xử lý một số vướng mắc cấp bách trong quá trình chuyển công ty nhà nước sang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp./.
Lãi suất huy động VND giảm xuống 11% - 11,2%/năm
Từ ngày 5/7 xuống mức 11%/năm đối với nhóm NHTM Nhà nước và khoảng 11,2%/năm đối với nhóm NHTM cổ phần, các NHTM sẽ không áp dụng các hình thức thưởng trực tiếp bằng tiền, lãi suất.
Theo thông báo về kết qủa cuộc họp thống nhất với các thành viên của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA), các ngân hàng thương mại (NHTM) - thành viên VNBA thống nhất sẽ điều chỉnh giảm lãi suất huy động VND từ ngày 5/7 xuống mức 11%/năm đối với nhóm NHTM Nhà nước và khoảng 11,2%/năm đối với nhóm NHTM cổ phần, các NHTM sẽ không áp dụng các hình thức thưởng trực tiếp bằng tiền, lãi suất.
Sau khi các NHTM Nhà nước đã điều chỉnh giảm lãi suất cho vay ngắn hạn VND đối với hộ sản xuất nông-lâm-ngư-diêm nghiệp, cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), cho vay chi phí sản xuất, chế biến, kinh doanh hàng xuất khẩu có bán ngoại tệ cho ngân hàng xuống mức 12-12,5%/năm ngay từ cuối tháng 6/2010 (trừ NH Phát triển Nhà đồng bằng Sông Cửu Long đang xem xét giảm trong tuần này). Tiếp theo là 4 NHTM cổ phần (Nhà Hà Nội, Hàng Hải, Sài Gòn thương tín và Á châu) đã điều chỉnh giảm lãi suất cho vay VND xuống mức 12,5%-13,5%/năm, các NHTM cổ phần quy mô lớn khác đang lên phương án điều chỉnh giảm lãi suất để áp dụng trong tuần này.
Việc giảm lãi suất cho vay VND đối với các đối tượng sản xuất - kinh doanh khác hiện cũng đang được các NHTM thực hiện. Mức lãi suất tối đa cho vay VND đối với các đối tượng khác tại NHTM Nhà nước là 14%/năm, tại nhóm 4 NHTM cổ phần (Nhà Hà Nội, Hàng Hải, Sài Gòn thương tín và Á châu) là 15,8%/năm.
Việc đồng thuận giảm lãi suất huy động VND sẽ là tiền đề tích cực để các NHTM giảm chi phí đầu vào và trên cơ sở đó tiếp tục hạ lãi suất cho vay đối với tất cả các đối tượng sản xuất-kinh doanh./.
Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu
Ngày 13/7, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ Đề án thí điểm bảo hiểm tín dụng xuất khẩu. Đề án do Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Công thương, Ngân hàng Nhà nước và Văn phòng Chính phủ xây dựng.
Theo đó, Bộ Tài chính dự kiến phát triển bảo hiểm tín dụng xuất khẩu theo hướng thí điểm trong 3 năm, với 21 mặt hàng thuộc 02 nhóm hàng hoá đang được khuyến khích xuất khẩu, phí bảo hiểm theo nguyên tắc thị trường, rủi ro được bảo hiểm là rủi ro thương mại.
Theo Bộ Tài chính, hiện trên thị trường có một số doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đã và đang bắt đầu triển khai bảo hiểm tín dụng xuất khẩu dưới hình thức kết hợp với một tổ chức chuyên về bảo hiểm tín dụng xuất khẩu lớn trên thế giới. Do đó, Bộ sẽ lựa chọn một số doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đáp ứng điều kiện để triển khai đề án.
Ngoài ra, để hỗ trợ các doanh nghiệp bảo hiểm tham gia triển khai thí điểm bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, Nhà nước có chính sách hỗ trợ chi phí cho giai đoạn đầu và hỗ trợ cho doanh nghiệp bảo hiểm trong quá trình triển khai bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.
Tuy nhiên, theo Bộ Tài chính, việc triển khai Đề án thí điểm bảo hiểm tín dụng xuất khẩu sẽ gặp những khó khăn nhất định:
Đối với bên mua bảo hiểm sẽ khó chấp nhận ngay sản phẩm này, bởi từ trước đến nay họ chưa có thói quen mua bảo hiểm tín dụng xuất khẩu và đã rất quen với các hình thức phòng ngừa rủi ro khác trong thanh toán quốc tế. Đồng thời, do chưa nhận thức được lợi ích của việc tham gia bảo hiểm tín dụng xuất khẩu mà lại quan niệm mua bảo hiểm tín dụng xuất khẩu sẽ làm tăng chi phí, dẫn đến tăng giá thành sản phẩm xuất khẩu và làm giảm lợi thế cạnh tranh sẽ tạo ra tâm lý không muốn tham gia bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.
Đối với doanh nghiệp bảo hiểm, có thể có doanh nghiệp bảo hiểm muốn tham gia Đề án, có thể có doanh nghiệp bảo hiểm không muốn tham gia, mặc dù đủ điều kiện, bởi phụ thuộc vào chiến lược kinh doanh cũng như tính toán hiệu quả kinh doanh của từng doanh nghiệp bảo hiểm.
Tuy nhiên, với tiềm năng của thị trường tương đối lớn và mong muốn triển khai của một số doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, Bộ Tài chính tin rằng bảo hiểm tín dụng xuất khẩu sẽ phát triển ở Việt Nam trong những năm tới./.
EC giải đáp vướng mắc về IUU
Tổng Cục Thủy sản Việt Nam cho biết, vừa nhận được thư của Uỷ ban Châu Âu (EC) giải đáp những vướng mắc trong quá trình thực hiện Quy định 1005/2008 (Quy định IUU) của các nhà xuất khẩu thủy sản Việt Nam.
Theo EC, hiện nay, một số tàu khai thác hải sản của Việt Nam không sử dụng thông tin như tín hiệu, số IMO/Lloyd’s hay số Inmarsat. Tuy nhiên, theo cơ sở dữ liệu quốc tế về các tàu khai thác, một số tàu Việt Nam sử dụng cả số IMO và tín hiệu quốc tế. Do vậy, những mục này phải có trong mẫu Giấy chứng nhận khai thác (Giấy CC). Ngoài ra, số ID và số đăng ký phải phù hợp với các tàu khác trong thời gian tới và không bắt buộc phải thay đổi khai báo.
EC cũng lưu ý, những mục trên chỉ điền khi có những thông tin phù hợp.
Mục bổ sung “Tờ khai của chủ cơ sở chế biến” trong Giấy CC và trong Giấy CC đã đơn giản hóa không bắt buộc phải điền.
Trong trường hợp, các sản phẩm chế biến được nhập khẩu và thu mua từ các tàu khai thác Việt Nam, nhà máy chế biến cần sử dụng Phụ lục IV của Quy định IUU. Theo Phụ lục IV, Giấy CC từ các tàu khai thác của nước thứ 3 cũng như Giấy CC gốc được duyệt đối với các lô hàng được thu mua từ các tàu khai thác Việt Nam sẽ phải đính kèm lô hàng. Phụ lục IV sẽ do cơ quan có thẩm quyền chứng thực.
Ngoài ra, EC cũng chỉ ra một số trường hợp sử dụng bản sao Giấy CC. Theo đó, Giấy CC chỉ áp dụng cho một phần sản lượng cập cảng xuất khẩu sang EU chứ không phải toàn bộ hàng cập cảng và Giấy CC chỉ có hiệu lực đối với hàng xuất khẩu từ Việt Nam.
Mỗi lô hàng xuất khẩu sang thị trường EU cần kèm theo một Giấy CC. Bản sao Giấy CC chỉ được chấp nhận trong trường hợp Việt Nam chế biến các sản phẩm thu mua từ các nước thứ 3 khác nhưng không để xuất khẩu hoàn toàn. Tức là, bản sao CC có thể đính kèm các lô hàng khác nhau, cùng với bản khai chế biến theo Phụ lục IV của Quy định IUU.
Các cơ sở chế biến ở Việt Nam cần lưu ý mục “Mô tả sản phẩm” trong Giấy CC. Các sản phẩm chế biến được thu mua từ cùng một nước phải có Giấy CC của nước đó bao gồm các điều khoản về mô tả sản phẩm. Chế biến sản phẩm của cùng một nước sẽ được khai trong Giấy CC sử dụng cả mục “loài” và “mã sản phẩm”.
Trong trường hợp một số lô hàng được thu mua từ cùng một chuyến khai thác của một tàu khai thác, nhà xuất khẩu yêu cầu một Giấy CC riêng do cơ quan chức năng của quốc gia tàu treo cờ chứng thực cho mỗi lần xuất hàng.
Đối với Giấy CC này nếu sản phẩm xuất khẩu được thu mua từ một số tàu khai thác, chi tiết về sản lượng khai thác sẽ nằm trong mục 2 và 3 Giấy CC. Để tiếp cận những thông tin này dễ dàng hơn, thông tin trong phần 2 và 3 cần tập trung vào một phụ lục (xem phụ lục I đính kèm). Trong trường hợp Việt Nam quyết định sử dụng phụ lục này, Việt Nam cần thông báo trước với EC kèm theo mẫu Phụ lục định làm./.
TT TT CN & TM