Doanh nghiệp cần biết
Doanh nghiệp cần biết
Doanh nghiệp cần biết 05/03/2012 
05/03/2012 
 

Kiến nghị áp thuế xuất khẩu dăm gỗ

Hội mỹ nghệ và chế biến gỗ TPHCM (Hawa) vừa kiến nghị Bộ Tài chính áp thuế xuất khẩu đối với mặt hàng dăm gỗ.

Trao đổi với TBKTSG, Phó chủ tịch Hawa Huỳnh Văn Hạnh nói rằng kiến nghị trên là nhằm để hạn chế tình trạng xuất dăm gỗ ồ ạt, nhiều nhất qua Trung Quốc.

Ông Hạnh cho biết ngày càng nhiều doanh nghiệp chế biến ván sàn gỗ công nghiệp làm từ dăm gỗ hoặc từ cây gỗ ngắn ngày băm nhỏ, và do vậy nhu cầu nguồn nguyên liệu dăm gỗ đang ngày càng lớn. Bên cạnh đó, nhiều khách hàng châu Âu, Hàn Quốc cũng đang yêu cầu các sản phẩm dăm gỗ, gỗ vụn đóng thành tấm để sử dụng làm chất đốt cho công nghiệp cũng như dân sinh.

“Các đơn hàng này cho lợi nhuận cao trong khi công nghệ chế biến đơn giản. Tuy nhiên nguồn nguyên liệu lại bị mang đi xuất khẩu ồ ạt, khiến giá loại nguyên liệu này trong nước tăng cao”, ông Hạnh nhận xét.

Trước đó, ông Nguyễn Chiến Thắng, Giám đốc điều hành Công ty đồ gỗ Scansia Pacific, tỉnh Bình Dương cho rằng, Chính phủ cần có quy hoạch đối với các cụm khai thác vùng nguyên liệu và chế biến để tận dụng nguyên liệu dăm gỗ, gỗ vụn trong khâu cưa xẻ để sản xuất ván sàn có giá trị cao hơn rất nhiều so với xuất thô nguyên liệu.

Trong khi đó, đại diện các hộ nông dân trồng rừng ở tỉnh Đắc Lắc trong hội nghị trồng rừng do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức thứ 6 tuần qua tại TPHCM cho biết hiện nay do thiếu vốn nên họ phải cho khai thác cây gỗ sớm, băm ra để lấy gỗ dăm xuất khẩu thay vì trồng thêm vài năm để lấy gỗ xẻ có giá trị cao hơn gấp nhiều lần. Một tấn gỗ dăm trên thị trường có giá 500.000 đồng, trong khi đó 1 tấn gỗ xẻ cho giá cao gấp 4 lần.

Đại diện Vụ Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương cho biết đang rà soát lại thực tế xuất khẩu dăm gỗ để có cơ sở đề xuất với Bộ Tài chính.

 

Tạo điều kiện cho doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường Bắc Phi

Theo Vụ Xuất Nhập khẩu (Bộ Công Thương), với nhu cầu lương thực, thực phẩm ngày càng tăng trong khi các điều kiện không quá khắt khe, thị trường Bắc Phi đang trở nên hấp dẫn với nhiều cơ hội để các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu hàng nông sản.

Hiện nay phần lớn các nước Bắc Phi có nền nông nghiệp lạc hậu, năng suất thấp không thể đáp ứng đủ nhu cầu lương thực cho người dân. Hơn nữa, từ lâu khu vực này đã phụ thuộc vào nguồn lương thực thực phẩm nhập khẩu. Bên cạnh đó, xu hướng sử dụng hải sản thay thế cho thịt trong bữa ăn hàng ngày tại các nước Bắc Phi cũng khiến nhu cầu nhập khẩu các sản phẩm thủy hải sản ngày càng tăng. Ngoài ra nhiều mặt hàng rau củ quả các loại của Việt Nam cũng được ưa chuộng tại thị trường này.

Để đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường các nước Bắc Phi, Vụ Xuất nhập khẩu cho rằng các doanh nghiệp Việt Nam cần quan tâm tìm hiểu và nắm vững các quy định thủ tục nhập khâu của từng nước. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cần bố trí những cán bộ có đủ trình độ về tiếng Pháp để giao dịch với đối tác, đây chính là lợi thế đảm bảo thành công. Đồng thời nên nghiên cứu khả năng đầu tư dây chuyền sản xuất hạt điều và việc nuôi trồng thủy sản nước ngọt và nước lợ tại khu vực thị trường này.

 

UAE - thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam ở Trung Đông

Theo các chuyên gia kinh tế, với vai trò là trung tâm tái xuất hàng hoá lớn thứ 3 thế giới (sau Hồng Kông và Singapore), Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE) hiện là quốc gia năng động nhất trong hoạt động thương mại, vận tải, dịch vụ cho toàn bộ khu vực Trung Đông, là cửa ngõ quan trọng để trung chuyển hàng hoá vào thị trường châu Phi và EU.

Do đó, không có gì lạ khi giá trị kim ngạch xuất khẩu năm 2011 của Việt Nam sang UAE đạt khoảng 922 triệu USD, tăng tới 82% so với năm 2010. Điều này giúp UAE vượt qua Thổ Nhĩ Kỳ để trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam ở khu vực Trung Đông năm 2011.

Tiềm năng lớn

UAE là nền kinh tế lớn thứ 2 Trung Đông, đóng vai trò trung tâm thương mại và tài chính của khu vực, đồng thời là nơi trung chuyển hàng hoá và trung tâm tái xuất hàng hóa lớn thứ 3 thế giới. Năm 2010, tái xuất tăng 25%, chiếm 50 tỷ USD trong tổng kim ngạch thương mại hàng hóa phi dầu mỏ 205 tỷ USD của UAE.

Tiềm năng và lợi thế của UAE được doanh nghiệp Việt Nam rất quan tâm. Thời gian qua, Việt Nam đã có nhiều đoàn Chính phủ các cấp sang thăm và làm việc tại UAE. Trong đó, Bộ Công Thương, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và một số hiệp hội như: Thủy sản, lương thực, hạt tiêu, da giày, dệt may… thường xuyên tổ chức các đoàn doanh nghiệp đi giao thương, tham dự hội chợ, triển lãm, hội thảo tại Dubai. Các sự kiện xúc tiến thương mại nổi bật gồm có: Hội thảo Doanh nghiệp nông sản và thủy sản (2011), các Triển lãm thực phẩm vùng Vịnh (Gulfood) tổ chức hàng năm, Lễ hội bán hàng Global Village (hàng năm), Triển lãm gạo Dubai (2011), Triển lãm hàng nông sản SIAL 2011 tại Abu Dhabi… Tích cực khảo sát thị trường nên doanh nghiệp Việt Nam đã khai thác tốt các cơ hội, qua đó đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa Việt Nam vào UAE và các nước xung quanh.

Số liệu của Tổng cục Hải quan cho thấy, năm 2011, giá trị kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang UAE đạt khoảng 922 triệu USD, tăng 82% so với năm 2010, đưa kim ngạch xuất nhập khẩu hai nước đạt khoảng 1,2 tỷ USD với mức tăng 64%, cao nhất tính đến nay.

Nhìn vào cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu, nổi bật nhất trong năm qua là điện thoại di động với giá trị kim ngạch đạt 363 triệu USD, tăng tới 412% so với năm 2010, chiếm 39% giá trị tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang UAE. Đây là con số rất ấn tượng nếu chúng ta biết rằng năm 2009, Việt Nam chưa xuất khẩu điện thoại di động sang UAE.

Bên cạnh đó, rất nhiều mặt hàng khác cũng đạt được tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao như sản phẩm dệt may tăng 227%, đạt 53,5 triệu USD; sắt thép các loại tăng 170%, đạt 20 triệu USD; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 56%, đạt 134 triệu USD; hạt tiêu tăng 50%, đạt 70,5 triệu USD và mặt hàng hải sản đạt 45 triệu USD, tăng 40%.

Khai thác các sản phẩm thế mạnh

Theo ông Ngô Khải Hoàn, Tham tán thương mại Việt Nam tại Dubai, tiềm năng thị trường UAE nói riêng và thị trường Trung Đông nói chung còn rất lớn, nhưng để hàng Việt “phủ sóng” rộng hơn và vững chắc hơn, các DN Việt Nam cần tận dụng tốt hơn lợi thế cạnh tranh về chất lượng và giá cả của mặt hàng thực phẩm, nông sản khi nhu cầu nhập khẩu các sản phẩm này của UAE hàng năm là hơn 80% đối với các mặt hàng như gạo, tiêu đen, trà, cà phê, dừa, hạt điều...

Đặc biệt, các doanh nghiệp UAE đang muốn đầu tư trực tiếp vào lĩnh vực chế biến hoặc thiết lập quan hệ thương mại trong lĩnh vực nông sản với doanh nghiệp Việt Nam, một mặt nhằm đáp ứng nhu cầu nội địa của UAE, mặt khác để đưa hàng hóa Việt Nam vào EU và châu Phi.

Bên cạnh đó, sau một loạt hoạt động xúc tiến thương mại, mặt hàng hải sản đã có chuyển biến rất tốt tại thị trường này. UAE bắt đầu chấp nhận và tiêu dùng hải sản đông lạnh của Việt Nam. Ngoài ra, thực phẩm chế biến, trong đó có chè và cà phê - hai mặt hàng thế mạnh của Việt Nam - cũng được tiêu thụ mạnh tại thị trường này.

 “Với vị trí chiến lược là thị trường trung chuyển và tái xuất cho hàng hóa Việt Nam vào khu vực châu Phi và EU, các DN Việt Nam cần tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại tại UAE để mở rộng thị trường xuất khẩu của mình”, ông Ngô Khải Hoàn nhấn mạnh.

 

Người đại diện vốn nhà nước tại doanh nghiệp sẽ bị giám sát

Cá nhân, ban lãnh đạo doanh nghiệp, chủ sở hữu và cơ quan quản lý Nhà nước không hoàn thành nhiệm vụ giám sát doanh nghiệp sẽ bị xử lý

Bộ Tài chính đã trình Thủ tướng ban hành Quy chế giám sát tài chính ở doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và doanh nghiệp có vốn nhà nước.

Trong bản dự thảo quy chế mới, hai đối tượng sẽ được bổ sung giám sát. Một là là các tổ chức, cá nhân được Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ ủy quyền, phân cấp hoặc giao làm đại diện vốn nhà nước tại doanh nghiệp và người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp khác.

Đối tượng thứ hai là cơ quan quản lý nhà nước được giao nhiệm vụ giám sát tài chính doanh nghiệp, và trong trường hợp này là bộ trưởng, chủ tịch UBND tỉnh, thành phố hoặc Bộ Tài chính nếu chưa làm tròn các trách nhiệm quản lý, giám sát phần vốn được giao.

Việc bổ sung các đối tượng nói trên nhằm cụ thể hóa trách nhiệm của những người có liên quan, tránh tình trạng như ở EVN, người đại diện phần vốn của EVN (cũng là vốn nhà nước) tại các doanh nghiệp khác đã tự nhận các khoản thù lao mà các doanh nghiệp trên chi trả cho người đại diện vốn song không nộp về EVN như quy định. Trong khi đó, họ không có trách nhiệm rõ ràng với tình hình kinh doanh tốt, xấu tại các địa chỉ này.

Cũng theo Bộ Tài chính, sẽ có chế tài xử lý cụ thể đối với cá nhân, ban lãnh đạo doanh nghiệp, chủ sở hữu và cơ quan quản lý nhà nước khi vi phạm hoặc không hoàn thành nhiệm vụ giám sát tài chính doanh nghiệp.

 Bản quy chế mới cũng phân định mức độ, nội dung giám sát ở các loại hình doanh nghiệp khác nhau thì mức độ, yêu cầu giám sát khác nhau nhưng không làm tăng thêm thủ tục, nội dung công việc tại các doanh nghiệp một cách không cần thiết.

Một số trường hợp không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng

Theo Nghị định 121/2011/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 123/2008/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng, kể từ ngày 1/3/2012, bổ sung quy định về các trường hợp không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng gồm:

Thứ nhất, hàng hóa, dịch vụ do đối tượng nộp thuế tại Việt Nam cung cấp ở ngoài Việt Nam, trừ hoạt động vận tải quốc tế mà chặng vận chuyển quốc tế có điểm đi và đến ở nước ngoài.Trường hợp cung cấp dịch vụ mà hoạt động cung cấp vừa diễn ra tại Việt Nam, vừa diễn ra ở nước ngoài nhưng hợp đồng dịch vụ được ký kết giữa 2 doanh nghiệp là đối tượng nộp thuế tại Việt Nam hoặc có cơ sở thường trú tại Việt Nam thì dịch vụ này phải chịu thuế giá trị gia tăng đối với phần giá trị hợp đồng thực hiện tại Việt Nam, trừ trường hợp cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho hàng hóa nhập khẩu.

Thứ hai, các khoản thu về bồi thường, tiền thưởng, tiền hỗ trợ nhận được, tiền chuyển nhượng quyền phát thải và các khoản thu tài chính khác.

Thứ ba, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam mua dịch vụ của tổ chức nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam, cá nhân ở nước ngoài là đối tượng không cư trú tại Việt Nam như: sửa chữa phương tiện vận tải, máy móc, thiết bị (bao gồm cả vật tư, phụ tùng thay thế); quảng cáo, tiếp thị; xúc tiến đầu tư vàthương mại; môi giới bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ; đào tạo; chia cước dịch vụ bưu chính, viễn thông quốc tế giữa Việt Nam với nước ngoài mà các dịch vụ này được thực hiện ở ngoài Việt Nam.

Thứ tư, tổ chức, cá nhân không kinh doanh, không phải là người nộp thuế giá trị gia tăng thì không phải kê khai, tính thuế giá trị gia tăng khi bán tài sản, kể cả trường hợp bán tài sản đang sử dụng để đảm bảo tiền vay tại các ngân hàng, tổ chức tín dụng.

Ngoài 12 đối tượng không chịu thuế đã được quy định tại Nghị định123/2008/NĐ-CP, Nghị định 121/2011/NĐ-CP còn bổ sung đối tượng không chịu thuế gồm: Dịch vụ phục vụcông cộng về vệ sinh, thoát nước đường phố và khu dân cư; duy trì vườn thú, vườn hoa, công viên, cây xanh đường phố, chiếu sáng công cộng; dịch vụ tang lễ.
TT TT CN & TM