Học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh
Học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh
Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh 
20/12/2016 
 

Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là bộ phận quan trọng trong tư tưởng cách mạng của Người. Tư tưởng đó được hình thành phát triển trong quá trình giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa đường lối cách mạng và phương pháp cách mạng, xuất phát từ đặc điểm nổi bật của cách mạng Việt Nam là cách mạng giải phóng dân tộc gắn liền với khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng. Đứng trước kẻ thù là thực dân đế quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: không có con đường nào khác là phải sử dụng bạo lực cách mạng để giải phóng cho dân tộc, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ đất nước. Vì vậy, khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng là con đường duy nhất đúng đắn để giành thắng lợi cho cách mạng Việt Nam.

Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là kết quả hoạt động tư duy và thực tiễn trong những điều kiện lịch sử nhất định của đất nước và thế giới của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người đã tiếp thu, vận dụng sáng tạo di sản tư tưởng quân sự dân tộc, tinh hoa quân sự của nhân loại trong đó đặc biệt là lý luận quân sự Mác - Lênin. Chính lý luận quân sự Mác - Lênin là nguồn gốc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, quyết định sự ra đời và phát triển của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, quyết định bản chất cách mạng và khoa học của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh.

Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh hình thành và phát triển qua nhiều giai đoạn khác nhau. Ngay từ những năm đầu thế kỷ XX (1920 - 1930), một số quan điểm quân sự Hồ Chí Minh đã hình thành như vấn đề khởi nghĩa vũ trang, vấn đề thành lập quân đội của Đảng Cộng sản. Những năm sau đó, Hồ Chí Minh đã xây dựng lý luận về khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh cách mạng, về lực lượng vũ trang nhân dân và một số quan điểm bước đầu về quốc phòng toàn dân.

Như vậy, có thể thấy quá trình hình thành tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh gắn liền với quá trình hình thành, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, gắn liền với đường lối chính trị quân sự của Đảng Cộng sản Việt Nam; gắn với cuộc đấu tranh của nhân dân các dân tộc tiến bộ trên thế giới vì hòa bình và phát triển.

Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh có nội dung đa dạng và phong phú, bao trùm nhiều lĩnh vực hoạt động quân sự và đấu tranh vũ trang. Trước hết, đó là quan  điểm về bạo lực cách mạng. Theo Hồ Chí Minh, việc sử dụng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng để giành và giữ chính quyền là một tất yếu lịch sử đối với các dân tộc bị áp bức dưới chế độ thực dân đế quốc. Bởi vì, bản thân chủ nghĩa đế quốc đã là sự xâm lược, thôn tính là bóc lột và đàn áp, nó chính là bạo lực của kẻ mạnh đối với kẻ yếu. Các dân tộc bị áp bức muốn được giải phóng triệt để không thể trông chờ ở “lòng thương” của kẻ xâm lược, mà phải dùng sức mạnh đấu tranh, phải sử dụng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, lật đổ ách thống trị của đế quốc thực dân giành chính quyền về tay nhân dân lao động và giữ vững chính quyền cách mạng ấy. Sự phát triển sáng tạo trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là ở chỗ, Hồ Chí Minh đã chỉ ra bạo lực cách mạng là bạo lực của quần chúng nhân dân có tổ chức và được rèn luyện trong đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Hình thức của bạo lực là sự kết hợp của nhiều biện pháp, cách thức đấu tranh cả quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao, văn hóa... Những hình thức đó có thể khái quát trong hai hình thức cơ bản chủ yếu là: đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang, sử dụng hai lực lượng: lực lượng chính trị của quần chúng và lực lượng vũ trang nhân dân để đập tan bộ máy cai trị của bọn đế quốc, tay sai, giành chính quyền về tay nhân dân. Lực lượng vũ trang kết hợp với lực lượng chính trị, đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị đó là hình thức cơ bản của bạo lực cách mạng Việt Nam.

Khi nói đến hoạt động quân sự và đấu tranh vũ trang, Hồ Chí Minh luôn gắn với chính trị. Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh chỉ rõ, quân sự phải phục tùng chính trị, phải góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đã đề ra. Hồ Chí Minh phê bình những thiên hướng chỉ thấy quân sự mà không thấy chính trị, chỉ biết tác chiến mà không biết vận động quần chúng và xây dựng cơ sở chính trị trong nhân dân. Vì vậy, Hồ Chí Minh khẳng định: “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc vô dụng mà có hại”. Trong thực tế cách mạng Việt Nam, việc xây dựng lực lượng chính trị là cơ sở để xây dựng lực lượng vũ trang, đấu tranh chính trị bao giờ cũng là cơ sở để triển khai đấu tranh trên lĩnh vực quân sự, “không có lực lượng chính trị và đấu tranh chính trị của quần chúng thì đấu tranh quân sự và lực lượng vũ trang không thể giành thắng lợi” (Lê Duẩn). Tuy nhiên, kinh nghiệm cách mạng Việt Nam cũng chứng minh rằng, muốn giành thắng lợi thì ngoài lực lượng chính trị cần phải có lực lượng vũ trang. Không chuẩn bị sẵn sàng lực lượng kể cả lực lượng vũ trang thì không chống lại được sự tấn công của kẻ thù. Lực lượng quân sự và đấu tranh vũ trang có vai trò trực tiếp quyết định đối với những trận chiến đấu trên chiến trường, trong đối đầu với lực lượng tấn công trực tiếp của địch, trong việc tiêu diệt lực lượng quân sự của địch. Ngoài đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang, sự thắng lợi của cách mạng còn có sự kết hợp các lĩnh vực đấu tranh khác như đấu tranh kinh tế, đấu tranh trên lĩnh vực văn hóa, ngoại giao... Việc kết hợp các lực lượng và hình thức đấu tranh trong tư tưởng Hồ Chí Minh về bạo lực cách mạng là một vấn đề có tính nguyên tắc quan trọng trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh.

Nét độc đáo trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh còn được thể hiện ở quan điểm nhân dân, toàn dân. Xuất phát từ tư tưởng dân là gốc có dân là có tất cả, quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò quần chúng trong đấu tranh cách mạng, Hồ Chí Minh khẳng định: Trong hoạt động quân sự và đấu tranh vũ trang, xây dựng lực lượng vũ trang, phải dựa vào dân, khơi nguồn sức mạnh cho dân, tổ chức tập hợp và đoàn kết toàn dân tạo nên sức mạnh to lớn chiến thắng kẻ thù.

Đây là quan điểm phản ánh rất rõ sự phát triển sáng tạo trong tư duy lý luận quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là sự kết hợp nhuần nhuyễn truyền thống quân sự của dân tộc với học thuyết quân sự Mác - Lênin. Quan điểm nhân dân, toàn dân trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh được thể hiện trong nhiều bài nói, bài viết của Người. Xem xét một cách khái quát có thể thấy nội dung quan điểm được thể hiện trên những vấn đề: Hồ Chí Minh khẳng định sức mạnh trong hoạt động quân sự và đấu tranh vũ trang là sức mạnh của quần chúng nhân dân, sức mạnh của cả dân tộc:

- Quan điểm quân sự phong kiến thường nhấn mạnh vai trò của tướng lĩnh, quan điểm quân sự tư sản thường nhấn mạnh vai trò của trang bị kỹ thuật của các đội quân nhà nghề. Hồ Chí Minh khẳng định: “sức mạnh là ở nơi dân, trên bầu trời không gì quý bằng nhân dân, trên thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của toàn dân”. Người chỉ rõ: “Sự nghiệp kháng chiến kiến quốc là sự nghiệp của toàn dân, tất cả quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Người rút ra kết luận: “Dân khí mạnh thì không có quân lính nào, súng ống nào chống lại nổi”.

- Không chỉ nhận thức đúng vai trò của nhân dân, khẳng định sức mạnh vô địch là nhân dân, Hồ Chí Minh còn chỉ rõ lực lượng đấu tranh chống đế quôc thực dân là toàn thể dân tộc Việt Nam. Bởi vì theo Người, đế quốc thực dân là kẻ thù chung, nhưng chúng lại dùng nhiều thủ đoạn thâm độc để chia rẽ, kích động, phân hóa các tầng lớp nhân dân để dễ bề cai trị và xâm lược, cho nên phải tập hợp sức mạnh toàn dân để chiến thắng kẻ thù. Người khẳng định:

“Cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân, cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân”.

Như vậy, có thể thấy tư tưởng Hồ Chí  Minh về lực lượng toàn dân trong đấu tranh vũ trang đã mở biên độ ra rất rộng đến toàn thể dân tộc Việt Nam. Quan điểm này phản ánh rõ nét sự phát triển sáng tạo trong tư duy quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sáng tạo này vừa nắm được cái hồn của nhận thức đấu tranh giai cấp, vừa nắm được cái thực của đất nước, của dân tộc và nhờ đó đã hóa giải một cách hết sức tài tình, khôn ngoan những đối kháng về lợi ích bộ phận trong những hoàn cảnh nhất định phục vụ tập trung cho quyền lợi của dân tộc, của đất nước.

Có thể nói, trong lĩnh vực hoạt động đặc thù, hoạt động đấu tranh vũ trang, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng tìm kiếm mẫu số chung là toàn dân tộc. Người đặt tiến trình xoáy trôn ốc đi lên của cách mạng trên cái căn bản là đoàn kết và quy tụ. Tuy nhiên, phải thấy rằng biên độ mở rất rộng nhưng cốt rất chắc, đó là liên minh công nông do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Đây là quan điểm rất cách mạng và khoa học, là sáng tạo hết sức tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhờ vậy, Người đã quy tụ, tập hợp được mọi tầng lớp nhân dân trong mặt trận dân tộc rộng chống đế quốc. Đồng thời Người có thể huy động được mọi nguồn lực trong dân, tập trung cho nhiệm vụ chiến đấu cũng như xây dựng.

Không chỉ khẳng định sức mạnh vô địch là sức mạnh của nhân dân, xác định lực lượng là toàn dân, Hồ Chí Minh còn chỉ ra phương hướng cơ bản để tổ chức tập hợp và phát huy sức mạnh của nhân dân trong hoạt động quân sự và đấu tranh vũ trang.

Người đặc biệt chú ý những vấn đề:

- Phải có Đảng lãnh đạo, Đảng phải có đường lối đúng đắn, hợp lòng dân. Có như vậy mới làm cho dân tin Đảng và quyết tâm theo Đảng đến cùng.

- Để phát huy sức mạnh toàn dân, một vấn đề hết sức quan trọng là phải đoàn kết toàn dân trong mặt trận dân tộc rộng do Đảng lãnh đạo. Đoàn kết để tạo nên sức mạnh cũng là truyền thống quý báu trong kho tàng tư tưởng quân sự của dân tộc ta.

- Phải vũ trang toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc.

- Động viên sức dân phải gắn với bồi dưỡng sức dân. Đó là tư tưởng thực túc binh cường, dân giàu nước mạnh. Đó cũng là tư tưởng khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc trong thời đại ngày nay, thời đại Hồ Chí Minh.

Quan điểm nhân dân, toàn dân trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh luôn gắn với toàn diện. Nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi tổ chức, mọi lực lượng, mọi phương tiện và hình thức đấu tranh để chiến thắng kẻ thù. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chiến tranh ngày nay phức tạp và hết sức khó khăn, không dùng toàn lực của nhân dân về đủ mọi mặt để ứng phó thì không thể thắng lợi được”.

Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh còn phản ánh sâu sắc quan điểm về con người trong hoạt động quân sự và đấu tranh vũ trang: Chiến tranh là hiện tượng lịch sử xã hội do con người tiến hành. Vì vậy, vai trò con người trong hoạt động quân sự và đấu tranh vũ trang luôn là vấn đề mà các nhà nghiên cứu lý luận quân sự quan tâm giải quyết. Các trường phái quân sự tư sản thường phủ nhận vai trò của con người. Tuy nhiên, trong số họ cũng có những người thấy được vai trò của con người trong chiến trận như: Claodơvít, Napôlêông... đương nhiên, con người mà họ đề cập có những tiêu chí phù hợp với quan điểm của giai cấp tư sản. Còn theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, con người là nhân tố quyết định trong chiến tranh. Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vai trò con người. “Người trước súng sau” là tư duy độc đáo của Hồ Chí Minh trong xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng. Ngay từ những năm 1925 - 1927, khi hoạt động ở miền Nam Trung Quốc, Hồ Chí Minh đã chú ý lựa chọn những người ưu tú nhất trong số thanh niên Việt Nam đang theo học ở các lớp huấn luyện cách mạng ở đây để gửi đi đào tạo ở các trường quân sự như Hoàng Phố, trường quân sự của nước Nga Xô viết. Sau này, khi xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, Hồ Chí Minh vẫn thường xuyên quan tâm đến con người trong hoạt động quân sự. Người quan tâm từ tổng tư lệnh đến chiến sĩ. Người xác định những yêu cầu về phẩm chất của những người hoạt động trong lĩnh vực quân sự và đấu tranh vũ trang. Đó là những người có phẩm chất toàn diện, phù hợp với đặc điểm hoạt động quân sự như các phẩm chất: tinh thần ý chí, kỹ năng quân sự, kỹ thuật chiến thuật, sức khỏe, kỷ luật... Trong đó, Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh phẩm chất chính trị tinh thần. Đồng thời Người nhắc nhở phẩm chất chính trị tinh thần cũng như các phẩm chất khác của con người trong lĩnh vực hoạt động quân sự và đấu tranh vũ trang phải được thể hiện thành hành động cách mạng cụ thể.

Nhấn mạnh vai trò của con người, nhưng Hồ Chí Minh không tuyệt đối hóa vai trò của con người. Phép biện chứng là ở chỗ, Hồ Chí Minh đặt con người trong mối quan hệ tổng hòa với các nhân tố khác như trang bị kỹ thuật, hậu phương chiến tranh, chế độ chính sách... và đặc biệt Hồ Chí Minh khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, sự thương yêu đùm bọc của nhân dân là những điều kiện quyết định để phát huy vai trò và sức mạnh của con người trong hoạt động quân sự và đấu tranh vũ trang.

Một vấn đề sâu sắc về con người trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là phải luôn chăm lo giáo dục, bồi dưỡng, xây dựng con người trong hoạt động quân sự và đấu tranh vũ trang. Lĩnh vực hoạt động quân sự là lĩnh vực hoạt động đặc thù. Đó là nơi thử thách con người một cách toàn diện nhất, là nơi gian khổ, khó khăn, đời hỏi sự sẵn sàng hy sinh. Vì vậy, phải thường xuyên chăm lo giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao giác ngộ cách mạng, ý chí và bản lĩnh chiến đấu, kiên định lập trường giai cấp công nhân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì mục tiêu cách mạng của Đảng, của dân tộc; thường xuyên chú trọng rèn luyện, nâng cao năng lực, trình độ kỹ thuật, chiến thuật; vận dụng sáng tạo truyền thống đánh giặc, nghệ thuật đánh giặc của cha ông; rèn luyện sức khỏe, kỷ luật và quan tâm một cách thích đáng đối với những người này. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở Đảng và nhân dân phải quan tâm chu đáo đến những người hoạt động trong lĩnh vực quân sự và đấu tranh vũ trang. Người là hiện thân sinh động của sự quan tâm to và đặc biệt sâu sắc. Bác thương người chiến sĩ tuần tra trong đêm thu mưa rét, thương đoàn dân công tải gạo cho chiến trường ngủ giữa rừng, Bác dành muôn vàn tình thương cho cán bộ chiến sĩ, Bác dành tiền tiết kiệm tặng bộ đội phòng không không quân, Bác gặp gỡ cán bộ cao cấp toàn quân trước lúc đi xa... Sự quan tâm của Đảng, Bác Hồ, của nhân dân là cơ sở là nền tảng xây dựng, bồi đắp bản chất truyền thống tốt đẹp của các lực lượng vũ trang, xây dựng và bồi đắp hình ảnh cao quý: “Bộ đội Cụ Hồ”.

Quan điểm con người trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh còn phản ánh sâu sắc tư tưởng nhân văn trên cơ sở kế thừa truyền thống nhân nghĩa của dân tộc và quan điểm nhân đạo của chủ nghĩa Mác- Lênin. Vận dụng quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta thường xuyên quan tâm, chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng ngày càng mạnh trưởng thành.

Từ những quan điểm cơ bản cốt lõi trên, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh còn được thể hiện trên các lĩnh vực hoạt động quân sự cụ thể:

Tư tưởng Hồ Chí Minh về khởi nghĩa vũ trang là một bộ phận quan trọng trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh. Đó là hệ thống các quan điểm về phát động toàn dân đứng lên vũ trang khởi nghĩa, đánh đổ ách thống trị của thực dân đế quốc, giành chính quyền về tay nhân dân. Đó là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tế xã hội Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Điểm sáng tạo trong quan điểm về khởi nghĩa của Hồ Chí Minh là ở chỗ, Hồ Chí Minh xác định lực lượng tiến hành khởi nghĩa là lực lượng toàn dân, lấy công nhân và nông dân làm lực lượng chủ yếu dưới sự lãnh đạo của đội tiên phong của giai cấp công nhân. Về điều kiện khởi nghĩa Hồ Chí Minh chỉ rõ là phải có thời cơ, đại sự muốn thành công phải nhờ “vận nước”. “Vận nước” theo quan điểm Hồ Chí Minh không phải là một điều thần bí, “vận nước” là lòng dân và tình thế trong nước, ngoài nước, lòng dân tin theo cách mạng quyết tâm đứng lên đánh đổ ách thống trị của thực dân đế quốc. Tình thế trong và ngoài nước có lợi cho khởi nghĩa nổ ra. Tuy nhiên, có “vận nước” rồi lại cần phải đồng sức đồng lòng chớp thời cơ đứng lên khởi nghĩa. Việc nắm thời cơ, phát động khởi nghĩa đúng thời cơ là một vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng quyết định sự thành bại của khỏi nghĩa, về hình thức khởi nghĩa đi từ khởi nghĩa từng phần tiến tới tổng khởi nghĩa. Có thể nói, đây là nét độc đáo trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh về khởi nghĩa vũ trang còn đề cập đến vai trò của căn cứ địa và yêu cầu phải nắm vững tinh thần tiến công, trong thực hành khởi nghĩa phải kiên quyết tấn công. Phòng ngự là con đường chết của mọi cuộc khởi nghĩa.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về khởi nghĩa vũ trang đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam, là cơ sở để vận dụng sáng tạo trong tình hình hiện nay.

Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh còn làm sâu sắc và phát triển thêm lý luận Mác - Lênin về chiến tranh cách mạng ở Việt Nam. Nét nổi bật trong quan điểm của Hồ Chí Minh về chiến tranh cách mạng đó là cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện. Toàn dân kháng chiến, toàn dân đánh giặc là quan điểm xuất phát từ thực tiễn các cuộc chiến tranh mà nhân dân ta tiến hành. Đó là cuộc chiến tranh chính nghĩa nhằm bảo vệ nền độc lập của dân tộc, bảo vệ cuộc sống tự do hạnh phúc của nhân dân. Điều đó cho phép có thể động viên toàn dân tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài và gian khổ. Mặt khác, thực tiễn chiến tranh ở Việt Nam cũng cho thấy kẻ thù xâm lược thường mạnh hơn ta về quân sự, về vũ khí trang bị. Do vậy, sức mạnh để đánh thắng kẻ thù không thể chỉ dựa vào lực lượng vũ trang mà trước hết và quan trọng hơn hết là phải dựa vào lực lượng toàn dân, tổ chức tập hợp và phát động toàn dân đứng lên đánh giặc cứu nước. Đó chính là cơ sở của sức mạnh tổng hợp để chiến thắng kẻ thù. Chiến tranh nhân dân theo quan điểm Hồ Chí Minh luôn gắn với toàn diện. Sức mạnh của chiến tranh nhân dân là sức mạnh tổng hợp trên tất cả các mặt: quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao... trong đó đánh địch trên mặt trận quân sự là hình thức cơ bản có ý nghĩa quyết định trực tiếp; đấu tranh trên mặt trận chính trị giữ một vị trí không kém phần quan trọng nhằm phát huy cao độ thế chính nghĩa của ta, vạch trần bản chất phi nghĩa của địch, thực hiện đoàn kết toàn dân chống đế quốc xâm lược.

Cuộc đấu tranh trên mặt trận ngoại giao nhằm cô lập kẻ thù, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của nhân dân thế giới. Đây là mặt trận quan trọng có ý nghĩa chiến lược, phối hợp chặt chẽ với mặt trận chính trị, quân sự, tạo thế, tạo lực cho cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân ta.

Trên mặt trận kinh tế, phải chăm lo phát triển kinh tế của ta, phá kinh tế của địch, đảm bảo sự cung cấp đầy đủ, kịp thời mọi nguồn lực của đất nước cho chiến tranh, cho công cuộc phòng thủ đất nước.

Trên mặt trận văn hóa, cuộc đấu tranh cũng diễn ra hết sức quyết liệt. Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Văn hóa cũng là một mặt trận, anh chị em văn nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận ấy”.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hiện toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến là một đóng góp quan trọng vào kho tàng lý luận quân sự Mác - Lênin, là sự kế thừa và phát triển sáng tạo truyền thống quân sự của dân tộc.

Quan điểm của Hồ Chí Minh vê chiến tranh cách mạng còn khẳng định, để tiến hành cuộc chiến tranh chống lại kẻ địch mạnh phải thực hiện phương châm đánh lâu dài, dựa vào sức mình là chính, vừa kháng chiến vừa kiến quôc, thực hiện việc xây dựng hậu phương chiến tranh vững mạnh mà trước hết đó là lòng dân, là khối đại đoàn kết toàn dân với nòng cốt là liên minh công nông dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, là tiềm lực sức mạnh của cả nước được tập trung, được huy động cho chiến tranh.

Về xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh khẳng định việc tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân là một yêu cầu không thể thiếu trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ tổ quốc. Đảng Cộng sản có nhiệm vụ tổ chức và lãnh đạo lực lượng vũ trang. Đó là lực lượng chiến đấu tin cậy của Đảng, công cụ bạo lực của giai cấp để thực hiện thắng lợi mục tiêu của cách mạng là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Sự sáng tạo trong tư duy quân sự Hồ Chí Minh là ở chỗ, trong khi khẳng định một vấn đề có tính nguyên tắc đó là bản chất giai cấp của Quân đội nhân dân Việt Nam - bản chất giai cấp công nhân, Hồ Chí Minh còn chỉ rõ quân đội đó còn là quân đội của dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu hy sinh. Mối quan hệ mật thiết và máu thịt với nhân dân là mối quan hệ phản ánh bản chất của quân đội cách mạng theo quan điểm của Hồ Chí Minh. Có thể nói, tư tưởng về quân đội của dân, do dân, vì dân là nét đặc sắc xuyên suốt trong tư duy quân sự của Hồ Chí Minh, là thực tế sinh động trong quá trình tổ chức giáo dục và rèn luyện quân đội. Quân đội nhân dân Việt Nam ra đời là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam. Thực tiễn hơn nửa thế kỷ xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam đã chứng minh bản chất cách mạng của quân đội ta, thể hiện rõ mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân thương yêu, đùm bọc, che chở. Hình ảnh “Anh bộ đội cụ Hồ” là biểu tượng cao đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam trong đời sống tinh thần tư tưởng của nhân dân.

Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội cách mạng còn phản ánh tư duy độc đáo qua việc xác định chức năng, nhiệm vụ quân đội. Theo Hồ Chí Minh, Quân đội nhân dân Việt Nam vừa là đội quân chiến đấu, vừa là đội quân công tác, vừa là đội quân sản xuất. Để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ đó, Đảng Cộng sản phải quan tâm chăm lo xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện, trong đó lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở. Phải xây dựng nền nếp chính quy và từng bước hiện đại hóa để nâng cao sức mạnh chiến đấu và khả năng sẵn sàng chiến đấu của quân đội.

Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh đã kế thừa và đưa nghệ thuật quân sự Việt Nam phát triển lên đỉnh cao mới: nghệ thuật quân sự Hồ Chí Minh. Tinh thần cơ bản của nghệ thuật quân sự mà Hồ Chí Minh đề cập được thể hiện qua nhiều bài viết như:”Cách đánh du kích”, “Binh pháp Tôn Tử”... Qua đó có thể khái quát trên một số mặt sau:

- Phải nắm vững tư tưởng chiến lược tiến công, giành và giữ quyền chủ động trong khởi nghĩa cũng như trong chiến tranh. Tiến công và phòng ngự là nội dung rất quan trọng trong chỉ đạo chiến tranh được Hồ Chí Minh vận dụng, sáng tạo trong chỉ đạo chiến lược, chiến thuật quân sự.

- Phải biết phát huy sức mạnh tổng hợp. Điểm cốt lõi của việc phát huy sức mạnh tổng hợp trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là phát huy sức mạnh toàn dân, toàn diện của đất nước, của dân tộc. Là sự kết hợp một cách tài tình sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để chiến thắng kẻ thù. Nghệ thuật phát huy sức mạnh tổng hợp của Hồ Chí Minh trong chiến tranh là sự tổng hòa của cả thế và lực, là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; là sự kết hợp sức mạnh của đường lối chính trị, quân sự; là sự kết hợp tài tình giữa chiến lược và sách lược cách mạng nhằm không ngừng tăng cường sức mạnh của chiến tranh nhân dân trong giải phóng dân tộc, cũng như trong bảo vệ Tổ quốc.

- Tạo lực, tạo thế, tạo thời cơ, dùng mưu để thắng địch là những yếu tố quan trọng của nghệ thuật quân sự từ Đông Tây kim cổ đều vận dụng. Trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh nghệ thuật tạo thế, tạo thời cơ là nghệ thuật vận dụng sáng tạo những cách đánh truyền thống “lấy ít thắng nhiều”, “lấy nhỏ thắng lớn”, “lấy chất lượng cao thắng số lượng đông”. Chiến tranh giải phóng dân tộc chống lại sự xâm lược của chủ nghĩa thực dân đế quốc thông thường là một cuộc chiến tranh của kẻ yếu chống lại kẻ mạnh. Muốn giành thắng lợi không chỉ có ý chí mà phải tạo ra lực, tạo được thế, tạo được thời cơ và phải có một lối đánh tài giỏi, phải quyết đánh và biết đánh bằng nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân. Vì vậy, trong chỉ đạo chiến tranh, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến nội dung rất cơ bản này của nghệ thuật quân sự.

- Chủ động đánh vào lòng người đối phương, kết hợp tác chiến với địch vận. Ở đây, Hồ Chí Minh đã kết hợp nhuần nhuyễn quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, truyền thống văn hóa, lòng nhân ái cao cả của dân tộc và kinh nghiệm đấu tranh trong nước, thế giới. Xuất phát từ điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam, của nghệ thuật quân sự Việt Nam, Hồ Chí Minh chú trọng dùng “mưu phạt tâm công”, chủ động đánh vào lòng người đối phương, kết hợp tác chiến với binh địch vận làm cho thắng lợi ngày càng lớn hơn. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đánh mà thắng địch là giỏi, không đánh mà thắng lại càng giỏi hơn, không đánh mà thắng là nhờ địch vận”.

- Nghệ thuật khởi đầu và kết thúc chiến tranh cũng là nội dung độc đáo trong nghệ thuật quân sự Hồ Chí Minh. Có thể nói, Hồ Chí Minh là nhà chiến lược quân sự thiên tài, rất khát khao hòa bình, nhưng khi buộc phải tiến hành chiến tranh đã lựa chọn rất chính xác thời cơ, động viên nhân dân cả nước không phân biệt già trẻ, gái trai, không phân biệt tôn giáo đảng phái, không phân biệt miền ngược, miền xuôi, hễ là người Việt Nam đều đứng lên đánh giặc cứu nước. Trong quá trình tiến hành chiến tranh, khi kẻ địch đã ở vào thế cùng, tư duy quân sự của Hồ Chí Minh tiếp thu sáng tạo truyền thống quân sự dân tộc biết tìm ra cách kết thúc chiến tranh trong thế mạnh của cách mạng. Với tinh thần đó, trong kháng chiến chống Pháp, Hồ Chí Minh đã chỉ đạo vừa đánh, vừa đàm; kết hợp giữa đánh và đàm để kết thúc chiến tranh. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Hồ Chí Minh đã chỉ ra cách thức đế kết thúc chiến tranh là “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào” thực tế lịch sử đã diễn ra đúng theo cách mà Hồ Chí Minh đã lựa chọn.

Trong di sản tư tưởng quân sự mà Hồ Chí Minh để lại cho đất nước, cho dân tộc có những quan điểm bước đầu rất quan trọng về xây dựng nên quốc phòng toàn dân. Do điều kiện lịch sử, Hồ Chí Minh chưa có điêu kiện bàn sâu về vấn đề này. Nhưng những gì mà Người để lại đã đặt cơ sở nền tảng rất quan trọng cho sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân của Đảng ta và nhân dân ta.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền quốc phòng toàn dân khẳng định, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chính quyên cách mạng, bảo vệ nhân dân là yêu cầu khách quan mà Đảng phải thường xuyên quan tâm. Người nói: “Ngày xưa các vua Hùng đã có công dựng nước, ngày nay Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Lời dạy đó của Người chỉ ra quy luật dựng nước phải đi đôi với giữ nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội phải gắn với bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Trong điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam, Hồ Chí Minh cho rằng bảo vệ Tổ quốc phải là hành động có mục đích, có kế hoạch và thường xuyên được chuẩn bị. Vì vậy, xây dựng nền quốc phòng toàn dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh phải nhìn xa, phải thấy trước âm mưu thủ đoạn của kẻ thù, thấy trước thuận lợi khó khăn của cách mạng để chủ động chuẩn bị trước về mọi mặt, nhằm tăng cường tiềm lực sức mạnh của đất nước, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Từ truyền thống “cả nước đánh giặc”, “trăm họ làm binh”, Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng nền quốc phòng dựa trên sức mạnh toàn dân, toàn diện của đất nước. Đó là sự kê thừa truyền thống giữ nước và dựng nước của ông cha ta, là một truyền thống quý báu của dân tộc, là sự vận dụng sáng tạo lý luận Mác-Lênin về yêu cầu bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Để phát huy sức mạnh của toàn dân trong xây dựng nền quốc phòng, theo Hồ Chí Minh, phải giáo dục, tô chức, tập hợp toàn dân. Phát huy sức mạnh của toàn dân luôn gắn với chăm lo bồi dưỡng sức dân.

Xây dựng nền quốc phòng theo quan điểm của Hồ Chí Minh phải phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước cả về quân sự, chính trị, kinh tế, khoa học kỹ thuật, văn hóa...

Sức mạnh về quân sự quyết định trực tiếp sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân. Sức mạnh đó thể hiện ở sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân, khả năng chủ động chiến lược đề phòng và ngăn chặn chiến tranh, khả năng chuyển trạng thái đất nước từ thời bình sang thời chiến, khả năng tạo ưu thế về so sánh lực lượng trong chiến tranh. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân là chuẩn bị cho cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc trong tương lai. Cuộc chiến tranh ấy vạn là chiến tranh nhân dân vì thế, nó phải quán triệt quan điểm toàn dân đánh giặc trong đó lực lượng vũ trang 3 thứ quân là nòng cốt.

Sức mạnh chính trị tinh thần là nền tảng quan trọng, có vai trò quyết định nhất đối với sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân. Sức mạnh chính trị của nền quốc phòng toàn dân bắt nguồn từ tính chất của nền quốc phòng ấy là của dân, do dân, vì dân là bảo vệ tổ quốc, bảo vệ nhân dân, bảo vệ thành quả cách mạng... Cho nên nó có khả năng quy tụ được mọi lực lượng, huy động được mọi tiềm năng của đất nước, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Sức mạnh chính trị tinh thần của nền quốc phòng được thể hiện thông qua sự vững mạnh của cả hệ thống chính trị mà trong đó hạt nhân quyết định là sự lãnh đạo của Đảng và sức mạnh tối cao là sức mạnh của ý chí toàn dân.

Sức mạnh kinh tế là nền tảng của sức mạnh đất nước và của nền quốc phòng. Sức mạnh đó được biểu hiện ở khả năng sản xuất và phục vụ sản xuất, phục vụ mọi mặt đời sống trong thời bình và khả năng huy động vật chất kỹ thuật, đảm bảo cho nhu cầu thời chiến, khi chiến tranh xảy ra.

Văn hóa khoa học kỹ thuật là nền tảng của đời sống tinh thần xã hội, là một trong những nhân tố quan trọng tạo nên sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân. Theo Hồ Chí Minh: “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Vì vậy, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm xây dựng nền tảng văn hóa tinh thần cho dân tộc. Là một dân tộc văn hiến mà nét tiêu biểu là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần cộng đồng dân tộc, dân tộc ta đã dũng cảm đứng lên chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù. Sức mạnh của nền quốc phòng dựa trên nền tảng văn hóa tinh thần của dân tộc kết hợp với chủ nghĩa quốc tế vô sản sẽ trở nên vô địch.

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân theo quan điểm Hồ Chí Minh đời hỏi phải thường xuyên nâng cao cảnh giác, chủ động ngăn ngừa và làm thất bại mọi âm mưu phá hoại của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Hễ còn chủ nghĩa đế quốc thì nguy cơ chiến tranh vẫn còn. Cho nên chúng ta phải luôn cảnh giác và đế phòng, quyết không được chủ quan khinh địch”. Thực tế cách mạng Việt Nam đã cho thấy nhận định trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh là hoàn toàn đúng đắn.

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân theo quan điểm Hồ Chí Minh là phải quan tâm tinh thần độc lập tự chủ, tự lực tự cường, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc. Tinh thần độc lập tự chủ tự cường là quan điểm xuyên suốt trong tư tưởng cách mạng Hồ Chí Minh cũng như trong tư tưởng quân sự của Người. Hồ Chí Minh nói: “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chò dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”. Bài học lịch sử của dân tộc Việt Nam cũng như là tư tưởng dân tộc hẹp hòi, cũng không phải là tư tưởng bài ngoại. Với đường lối đối ngoại đúng đắn, Hồ Chí Minh đã tranh thủ được sự giúp đỡ to lớn và thiết thực của các nước xã hội chủ nghĩa, của bè bạn khắp năm châu, gắn sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại. Quan điểm của Hồ Chí Minh về phát huy tinh thần độc lập tự chủ, tự lực, tự cường là một nội dung quan trọng trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Tư tưởng đó còn được phát huy trong việc xây dựng thế trận quốc phòng, thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Ngay từ năm 1941, trong tác phẩm “Kinh nghiệm du kích Tàu”, Hồ Chí Minh chỉ rõ “Mỗi quốc dân phải là một chiến sĩ, mỗi làng xóm phải là một ổ du kích”. Tháng 8/1949, trên báo “Quân du kích”, Hồ Chí Minh viết: “Làm cho mỗi quốc dân là một chiến sĩ, mỗi làng xóm là một pháo đài”. Trong công cuộc xây dựng bảo vệ miền Bắc, Hồ Chí Minh luôn quan tâm xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững mạnh từ nông thôn đến thành thị, từ đồng bằng đến rừng núi để tạo nên thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc, sẵn sàng đánh thắng mọi hành động xâm lược của kẻ thù. Xây dựng thế trận quốc phòng vững chắc mới thực hiện được tư tưởng kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho toàn dân đánh giặc, mới phát huy được sức thấy, có tinh thần độc lập tự chủ, tự lực, tự cường mới có cơ sở phát huy mọi tiềm năng của đất nước, sáng tạo những hình thức và phương pháp đấu tranh phù hợp với điều kiện và khả năng của mình. Chính nhờ phát huy tinh thần độc lập tự chủ, tự lực, tự cường mà cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Chủ tịch mạnh của lòng dân, kết hợp với thế hiếm của sông núi, kết hợp sức mạnh của toàn dân với sức mạnh toàn diện của đất nước.

Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, một bộ phận quan trọng trong tư tưởng cách mạng của Người, là kết quả của hoạt động tư duy và thực tiễn trong điều kiện cụ thể của cách mạng Viêt Nam và thế giới, là sự kế thừa xuất sắc truyển thống quân sự của dân tộc, tinh quân của nhân loại. Trong thực tiễn tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng tư tưởng cho đường lối quân sự của Đảng trở thành ngọn đuốc soi đường của hoạt động quân sự và đấu tranh vũ trang của nhân dân ta. Tư tưởng đó được thực tiễn lịch sử Việt Nam khẳng định là đúng đắn và sáng tạo. Tư tưởng đó đã trở thành hạt nhân của tư tưởng quân sự Việt Nam trong thời đại mới, thời đại Hồ Chí Minh. Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên giá trị, tiếp tục chỉ dẫn cho mọi hành động của Đảng ta và nhân dân ta trong lĩnh vực hoạt động quân sự, đấu tranh vũ trang, trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Bảo vệ tổ quốc trong tình hình hiện nay luôn gắn với bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng bảo vệ nhân dân; gắn với xây dựng đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội là một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng phải được tổ chức thực hiện tốt hơn, hiệu quả hơn trong thực tiễn sinh động của công cuộc xây dựng và đấu tranh trong thời kỳ mới. Kẻ thù chưa bao giờ từ bỏ âm mưu chống phá cách mạng nước ta. Chúng dùng mọi thủ đoạn để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, chúng móc nối, cấu kết với các lực lượng thù địch bên trong và bên ngoài, lợi dụng các vấn đề dân tộc và tôn giáo... để gây rối, tạo ngòi cho bạo loạn lật đổ. Chúng có thể sử dụng sức mạnh quân sự để can thiệp hòng thực hiện ý đồ xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, biến Việt Nam thành một nước phụ thuộc. Tình hình đó đời hỏi chúng ta phải luôn nắm vững và vận dụng sáng tạo tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, tạo thế chủ động chiến lược đẩy lùi, ngăn chặn và làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn phá hoại của kẻ thù, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng đất nước. Bảo vệ Tổ quốc ngày nay phải được tiến hành bằng sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân, mà nòng cốt là liên minh công nông và tầng lớp trí thức, là sức mạnh của các thành phần kinh tế, của cả hệ thống chính trị; là sự kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng và an ninh, kết hợp quốc phòng với an ninh, kinh tế và ngoại giao; kết hợp sức mạnh chính trị, kinh tế với sức mạnh quân sự của đất nước, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu phá hoại của kẻ thù. Quá trình đó cũng là quá trình kết hợp giữa phát huy tinh thần tự lực tự cường với hợp tác mở cửa, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để giành thắng lợi cho sự nghiệp cách mạng.

Tăng cường sức mạnh bảo vệ đất nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ cuộc sống hòa bình, hạnh phúc của nhân dân một mặt, phải thường xuyên coi trọng xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng vững mạnh trưởng thành. Chăm lo xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân rộng khắp, củng cố và tăng cường tiềm lực sức mạnh quân sự đất nước, đảm bảo sẵn sàng đánh thắng các loại hình và quy mô chiến tranh xâm lược của kẻ thù, kể cả chiến tranh vũ khí kỹ thuật cao. Mặt khác, vấn đề hết sức quan trọng là phải tập trung phát triển nhanh và vững chắc nền kinh tế của đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Kinh nghiệm từ thực tế cho thấy, nền an ninh của Tổ quốc, sự bền vững của chế độ không chỉ phụ thuộc vào các yêu tố quân sự mà còn phụ thuộc hết sức chặt chẽ vào các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.

Nhận thức đúng đắn và vận dụng sáng tạo tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh trong điều kiện mới, phù hợp vối điều kiện lịch sử mới, nhất định nhân dân ta sẽ đi đến thắng lợi.

(Bách khoa Tri thức Quốc phòng toàn dân)
Kim Khánh (BBT)/ Nguồn Cổng thông tin điện tử Bộ Quốc phòng 
Tin đã đưa
(21/04)
(20/03)
(20/06)
(01/04)
(29/11)
(29/11)
(29/11)
(17/07)
(12/04)
(12/04)