Tư vấn pháp luật
Tư vấn pháp luật
HỎI – ĐÁP VỀ LUẬT TRUNG CẦU Ý DÂN 
13/07/2016 
 

Luật Trưng cầu ý dân  đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 25 tháng 11 năm 2015, bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/7/2016. Luật gồm có 8 chương, 52 điều, quy định về việc trưng cầu ý dân; nguyên tắc trưng cầu ý dân; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức trong trưng cầu ý dân; trình tự, thủ tục quyết định việc trưng cầu ý dân và tổ chức trưng cầu ý dân; kết quả và hiệu lực của kết quả trưng cầu ý dân. Dưới đây là một số câu hỏi – đáp về bộ luật này

Hỏi: Luật Trưng cầu ý dân có từ khi nào?

Đáp: Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam qua các thời kỳ luôn lấy Nhân dân làm trọng. Hội nghị “Diên Hồng” do Thượng Hoàng Trần Thánh Tông triệu tập các phụ lão trong cả nước vào năm 1284 để lấy ý kiến “ nên hòa hay nên chiến” trước sự xâm lược của quân Nguyên Mông lần thứ hai được xem như là cuộc trưng cầu ý dân đầu tiên của nước ta. Trãi qua các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, giành lại độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, vai trò làm chủ của Nhân dân đã được Đảng và Nhà nước ta xác định ngay từ khi thành lập Đảng và đặc biệt là Hiến pháp đầu tiên (Hiến pháp năm 1946) do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi thảo. Điều thứ 21, Hiến pháp năm 1946 quy định “Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia”.

Quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc phát huy dân chủ và quyền làm chủ của Nhân dân, mở rộng các hình thức dân chủ trực tiếp và việc xây dựng Luật Trưng cầu ý dân đã được xác định trong nhiều văn kiện quan trọng của Đảng và được quy định trong các Hiến pháp. Ngày 24-5-2005, Bộ Chính trị có Nghị quyết số 48-NQ/TW về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, chỉ rõ phải “Mở rộng các hình thức dân chủ trực tiếp để người dân tham gia vào công việc của Nhà nước, ban hành Luật về trưng cầu ý dân”. Tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII, ngày 25-11-2015 đã thông qua Luật Trưng cầu ý dân, Luật nàycó hiệu lực thi hành kể từ ngày 1-7-2016.

Hỏi: Những vấn đề nào cần phải trưng cầu ý dân?

Đáp: Việc ban hành Luật Trưng cầu ý dân là phản ảnh nhu cầu khách quan, tạo khuôn khổ pháp lý cho người dân tham gia chủ động, tích cực vào việc quyết định các công việc của Nhà nước và xã hội, đồng thời phản ảnh giá trị tư tưởng trọng dân, tin dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc; thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về quyền làm chủ của Nhân dân. Trưng cầu ý dân là việc Nhà nước tổ chức để cử tri cả nước trực tiếp biểu quyết bằng hình thức bỏ phiếu quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước.

Theo Điều 6, Luật Trưng cầu ý dân, những vấn đề trưng cầu ý dân bao gồm: Toàn văn Hiến pháp hoặc một số nội dung quan trọng của Hiến pháp, vấn đề đặc biệt quan trọng về chủ quyền, lãnh thổ quốc gia, quốc phòng, an ninh, đối ngoại có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của quốc gia; vấn đề đặc biệt quan trọng về kinh tế-xã hội có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của đất nước; vấn đề đặc biệt quan trọng khác của đất nước.

Nội dung này có ý nghĩa rất lớn liên quan đến quyền làm chủ cao nhất của Nhân dân, đó là những vấn đề về Hiến pháp, một số nội dung quan trọng của Hiến pháp; vấn đề đặc biệt quan trọng về chủ quyền, lãnh thổ, quốc phòng, an ninh, đối ngoại ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích quốc gia; vấn đề đặc biệt quan trọng về kinh tế-xã hội có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của đất nước là những vấn đề bắt buộc Quốc hội phải đưa ra trưng cầu ý dân. Việc trưng cầu ý dân phải bảo đảm nguyên tắc Nhân dân trực tiếp thể hiện ý chí của mình trong việc quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường đồng thuận xã hội. Nội dung này vừa bao hàm trách nhiệm pháp lý về quyền, nghĩa vụ của công dân, vừa xác định quyền trực tiếp thể hiện ý chí làm chủ của Nhân dân đối với những vấn đề quan trọng của đất nước trên cơ sở tăng cường đại đoàn kết và đồng thuận xã hội…

Hỏi: Trưng cầu ý dân và lấy ý kiến của nhân dân có giống nhau?

Đáp: Trưng cầu ý dân là việc Nhà nước tổ chức để cử tri cả nước trực tiếp biểu quyết bằng hình thức bỏ phiếu quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước theo quy định của Luật Trưng cầu ý dân. Trưng cầu ý dân và lấy ý kiến Nhân dân tuy cùng là hình thức để Nhân dân phát huy quyền dân chủ trực tiếp tham gia, thể hiện ý kiến với Nhà nước nhưng giữa trưng cầu ý dân và lấy ý kiến Nhân dân có sự khác nhau về nội dung, hình thức và giá trị pháp lý. Về nội dung, vấn đề đưa ra trưng cầu ý dân là những vấn đề quan trọng của đất nước, có phạm vi ảnh hưởng toàn quốc và phải do Quốc hội quyết định; còn vấn đề lấy ý kiến Nhân dân có thể là các vấn đề ở mức độ, phạm vi khác nhau, thuộc nhiều lĩnh vực do nhiều cơ quan quyết định, có thể là vấn đề ở tầm quốc gia nhưng cũng có thể chỉ là các vấn đề liên quan đến một hoặc một số địa phương cụ thể. Về hình thức, trong trưng cầu ý dân, người dân thể hiện ý chí của mình thông qua việc bỏ phiếu kín, còn trong việc lấy ý kiến Nhân dân thì các hình thức để người dân thể hiện ý chí thường linh hoạt hơn rất nhiều (có thể là bỏ phiếu, lấy ý kiến vào văn bản hoặc phát biểu trực tiếp tại các hội nghị, cuộc họp lấy ý kiến…). Về giá trị pháp lý, trưng cầu ý dân có giá trị quyết định, có thể thi hành ngay đối với vấn đề được đưa ra trưng cầu; còn kết quả lấy ý kiến Nhân dân là cơ sở để cơ quan, tổ chức lấy ý kiến xem xét, quyết định. Đối tượng của việc lấy ý kiến Nhân dân có thể là cơ quan, tổ chức, cá nhân, hộ gia đình,… trong khi đó, đối tượng trưng cầu ý dân chỉ gồm các cử tri. Việc ban hành Luật trưng cầu ý dân không hạn chế việc Nhà nước tổ chức lấy ý kiến Nhân dân đối với những vấn đề đã được quy định trong Hiến pháp và pháp luật.

 Nguyên tắc trưng cầu ý dân: Các nguyên tắc trong luật Trưng cầu ý dân quy định đảm bảo xuyên suốt các khâu, các bước trong trưng cầu ý dân và được quy định tại Điều 4, bao gồm:Bảo đảm để Nhân dân trực tiếp thể hiện ý chí của mình trong việc quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường đồng thuận xã hội. Thực hiện nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín khi trưng cầu ý dân. Việc trưng cầu ý dân phải được tiến hành theo trình tự, thủ tục do Luật này quy định.  

Người có quyền bỏ phiếu trưng cầu ý dân : Luật trưng cấu ý dân quy định cử tri trong trưng cầu ý dân cơ bản thống nhất như cử tri trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng Nhân dân các cấp. Cụ thể là :Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên tính đến ngày trưng cầu ý dân có quyền bỏ phiếu để biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 25 của Luật Trưng cầu ý dân.

Phạm vi tổ chức trưng cầu ý dân:  Luật trưng cầu ý dân quy định: Trưng cầu ý dân được thực hiện trong phạm vi cả nước. Điều này phù hợp với quy định của Hiến pháp về thẩm quyền quyết định trưng cầu ý dân của Quốc hội. Đồng thời, những vấn đề đưa ra trưng cầu ý dân phải là những vấn đề có ý nghĩa ở tầm quốc gia đưa ra để toàn dân quyết định .

Ngày bỏ phiếu trưng cầu ý dân : Ngày bỏ phiếu trưng cầu ý dân là ngày chủ nhật, do Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định và được công bố chậm nhất là 60 ngày trước ngày bỏ phiếu trưng cầu ý dân.

 Giám sát việc tổ chức trưng cầu ý dân : Trưng cầu ý dân là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, thể hiện quyền dân chủ trực tiếp của công dân trong việc tham gia quản lý nhà nước và xã hội. Để cuộc trưng cầu ý dân được tiến hành dân chủ, khách quan, công khai, minh bạch theo đúng quy định của pháp luật thì việc quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, các nhân và công dân trong giám sát việc trưng cầu ý dân là cần thiết. Do đó, Luật trưng cầu ý dân quy định :Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng Nhân dân, Thường trực Hội đồng Nhân dân, Ban của Hội đồng Nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng Nhân dân, đại biểu Hội đồng Nhân dân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát việc tổ chức trưng cầu ý dân. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và Nhân dân giám sát việc tổ chức trưng cầu ý dân theo quy định của pháp luật.

Kết quả trưng cầu ý dân : có giá trị quyết định đối với vấn đề được đưa ra trưng cầu và có hiệu lực thihành kể từ ngày Ủy ban Thường vụ Quốc hội ra Nghị quyết công bố . Còn việc lấy ý kiến Nhân dân có tính chất tham khảo, việc trưng cầu ý dân là bắt buộc và hiệu lực thực thi đúng quy định do Ủy ban Thường vụ Quốc hội công bố. Luật Trưng cầu ý dân quy định phạm vi tổ chức trưng cầu ý dân được thực hiện trong cả nước, cuộc trưng cầu ý dân hợp lệ phải được ít nhất ba phần tư tổng số cử tri cả nước có tên trong danh sách cử tri đi bỏ phiếu và nội dung trưng cầu ý dân phải được quá nửa số phiếu hợp lệ tán thành có giá trị thi hành. Đối với vấn đề về toàn văn Hiến pháp hoặc một số nội dung quan trọng của Hiến pháp phải được ít nhất hai phần ba số phiếu hợp lệ tán thành… 

Luật Trưng cầu ý dân là văn bản pháp luật quy định cụ thể về quyền của công dân, quyền làm chủ của Nhân dân đối với những vấn đề quan trọng của đất nước. Luật quy định khi tổ chức trưng cầu ý dân được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục thì kết quả trưng cầu ý dân do Ủy ban Thường vụ Quốc hội công bố (không phải chờ và không phải do Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố). Đây chính là điều quan trọng bậc nhất mà mọi người cần nhận thức rõ để thực thi quyền làm chủ cao nhất của Nhân dân đã được quy định cụ thể trong Luật Trưng cầu ý dân.

            Hỏi: Cách thức, thông tin tuyên truyền  về Trưng cầu ý dân có giống như thông tin tuyên truyền của Bầu cử Hội đông nhân dân các cấp?

Đáp: Việc thông tin, tuyên truyền trưng cầu ý dân có đặc thù riêng. Đó là thông tin, tuyên truyền về vấn đề trưng cầu ý dân, về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cử tri trong việc tham gia trưng cầu ý dân; động viên cử tri đi bỏ phiếu biểu quyết trưng cầu ý dân, không vận động cử tri bỏ phiếu hay ủng hộ phương án cụ thể. Nội dung này khác với việc thông tin, tuyên truyền, vận động trong bầu cử là người ứng cử được vận động cử tri trực tiếp bỏ phiếu cho mình. Do đó, Điều 31 Luật trưng cầu ý dân quy định mục đích, nguyên tắc thông tin, tuyên truyền về trưng cầu ý dân là:

1. Việc thông tin, tuyên truyền về trưng cầu ý dân nhằm cung cấp thông tin đầy đủ, đúng đắn về vấn đề được đưa ra trưng cầu ý dân để cử tri hiểu rõ ý nghĩa của việc trưng cầu ý dân, nội dung trưng cầu ý dân; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cử tri trong việc tham gia trưng cầu ý dân; động viên, khuyến khích cử tri tham gia tích cực vào việc bỏ phiếu trưng cầu ý dân.

2. Việc thông tin, tuyên truyền về trưng cầu ý dân được tiến hành công khai, dân chủ, khách quan, khoa học, đúng pháp luật, thuận lợi cho cử tri và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.

- Về nội dung, hình thức, thời gian và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong thông tin, tuyên truyền về trưng cầu ý dân .

            Để việc thông tin, tuyên truyền trưng cầu ý dân đạt được mục đích và đảm bảo nguyên tắc theo quy định tại Điều 31, Luật đã quy định cụ thể:

(1) Nội dung thông tin, tuyên truyền trưng cầu ý dân gồm: Sự cần thiết của việc trưng cầu ý dân; mục đích, quan điểm trưng cầu ý dân; nội dung trưng cầu ý dân; các phương án, giải pháp để thực hiện kết quả trưng cầu ý dân; đối tượng, phạm vi tác động của vấn đề trưng cầu ý dân; thời gian tổ chức trưng cầu ý dân; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cử tri trong việc tham gia trưng cầu ý dân.

(2) Hình thức thông tin, tuyên truyền về trưng cầu ý dân gồm: Phát hành các ấn phẩm, tài liệu chính thức của Ủy ban thường vụ Quốc hội về vấn đề được trưng cầu ý dân; tổ chức thông tin, tuyên truyền về trưng cầu ý dân trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật; thông qua hội nghị cử tri do Ủy ban Nhân dân cấp xã tổ chức và các hình thức khác do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định.

(3) Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong thông tin, tuyên truyền về trưng cầu ý dân là: Ủy ban thường vụ Quốc hội chủ trì, phối hợp với Chính phủ chỉ đạo công tác thông tin, tuyên truyền về trưng cầu ý dân trong phạm vi cả nước; Ủy ban Nhân dân các cấp chỉ đạo thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền về trưng cầu ý dân ở địa phương; các cơ quan báo chí ở trung ương và địa phương có trách nhiệm tuyên truyền về trưng cầu ý dân, thông tin về tình hình tổ chức trưng cầu ý dân theo quy định của pháp luật, sự chỉ đạo của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ và Ủy ban Nhân dân các cấp; cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang Nhân dân và chính quyền địa phương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tham gia và tạo điều kiện cho công tác thông tin, tuyên truyền về trưng cầu ý dân ở cơ quan, tổ chức, đơn vị và địa phương mình./.

Xem toàn văn luật trưng cầu ý dân tại đây

Luat-trung-cau-y-dan-2015-298375.aspx

----------------------------

Thanh Tâm – PV Đài Truyền thanh thành phố PRTC

Tư vấn pháp luật: bà Trần Thị Minh Nghị - Chủ tịch hội Luật gia thành phố PRTC