Tin hoạt động kho bạc nhà nước Ninh Thuận
Tin hoạt động kho bạc nhà nước Ninh Thuận
Những thay đổi quan trọng về kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức theo Nghị định số 112/2020/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực từ ngày 20/9/2020 
29/10/2020 
 

Ngày 18/9/2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 112/2020/NĐ-CP (Nghị định 112) về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức; Nghị định 112 có hiệu lực kể từ ngày 20/9/2020 và thay thế cho Nghị định 34/2011/NĐ-CP ngày 17/5/2011 về xử lý kỷ luật công chức; Nghị định 27/2012/NĐ-CP ngày 06/4/2012 về xử lý kỷ luật viên chức và trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của viên chức; chương 6 Nghị định 112/2011/NĐ-CP về công chức xã, phường, thị trấn; nội dung liên quan đến xử lý kỷ luật cán bộ được quy định tại Nghị định số 35/2005/NĐ-CP ngày 17/3/2005 của Chính phủ về việc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức.

Toàn thể CBCC KBNN Ninh Thuận

Có thể thấy, với sự ra đời của Nghị định 112, Chính phủ đã thống nhất và đồng bộ hóa các quy định kỷ luật cán bộcông chứcviên chức tại một văn bản. Ngoài ra, nhằm đồng bộ với Luật sửa đổi Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019, Nghị định 112 cũng quy định cụ thể về việc kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu.

Trong bài viết này, tác giả chỉ nêu những thay đổi quan trọng liên quan trực tiếp đến quyền lợi và trách nhiệm của công chức được quy định tại Nghị định 112/2020/NĐ-CP đã thay thế, bổ sung những nội dung mới, cụ thể hơn so với Nghị định 34/2011/NĐ/CP trước đây, cụ thể như sau:

 1. Những điểm mới về nguyên tắc xử lý kỷ luật công chức (Điều 2):

- Xử lý kỷ luật công chức phải đảm bảo công khai, minh bạch.

- Không tách riêng từng nội dung vi phạm của cán bộ, công chức, viên chức để xử lý kỷ luật nhiều lần với các hình thức kỷ luật khác nhau.

- Khi xem xét xử lý kỷ luật phải căn cứ vào nội dung, tính chất, mức độ, tác hại, nguyên nhân vi phạm, các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ.

- Trường hợp công chức đã bị xử lý kỷ luật đảng thì hình thức kỷ luật hành chính phải bảo đảm ở mức độ tương xứng với kỷ luật đảng. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày công bố quyết định kỷ luật đảng, cơ quan, tổ chức, đơn vị phải xem xét, quyết định việc xử lý kỷ luật hành chính.

- Công chức có hành vi vi phạm lần đầu đã bị xử lý kỷ luật mà trong thời hạn 24 tháng kể từ ngày quyết định xử lý kỷ luật có hiệu lực có cùng hành vi vi phạm thì bị coi là tái phạm; Trường hợp ngoài thời hạn 24 tháng thì hành vi vi phạm đó được coi là vi phạm lần đầu nhưng được tính là tình tiết tăng nặng khi xem xét xử lý kỷ luật.

2. Về các trường hợp chưa xem xét xử lý kỷ luật công chức:

Nghị định 112 bổ sung thêm 01 trường hợp mới chưa xem xét xử lý kỷ luật đối với công chức là nam giới (trong trường hợp vợ chết hoặc vì lý do khách quan, bất khả kháng khác) đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Ngoài ra, trong trường hợp công chức đang trong thời gian điều trị bệnh hiểm nghèo hoặc đang mất khả năng nhận thức, bị ốm nặng đang điều trị nội trú tại bệnh viện có xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền chưa xem xét xử lý kỷ luật.

3. Bổ sung các trường hợp được miễn trách nhiệm kỷ luật: Được cấp có thẩm quyền xác nhận vi phạm trong tình thế cấp thiết, trở ngại khách quan theo quy định của Bộ luật Dân sự khi thi hành công vụ; Công chức có hành vi vi phạm đến mức bị xử lý kỷ luật nhưng đã qua đời.

4. Về thời hiệu, thời hạn xử lý kỷ luật công chức:

- Bổ sung thời hiệu xử lý kỷ luật đối với công chức là 05 năm đối với hành vi vi phạm không thuộc trường hợp áp dụng thời hiệu 02 năm (đối với hành vi vi phạm ít nghiêm trọng đến mức phải kỷ luật bằng hình thức khiển trách).

- Tăng thời hạn xử lý kỷ luật đối với công chức từ tối đa là 02 tháng lên không quá 90 ngày trong trường hợp thông thường và không quá 150 ngày đối với các vụ việc có tình tiết phức tạp.

5. Bổ sung các quy định về hành vi bị xử lý kỷ luật:

So với các Nghị định trước đây, Nghị định 112 đã bổ sung thêm quy định các hành vi bị xử lý kỷ luật gồm:  Cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm các quy định về nghĩa vụ của cán bộ, công chức, viên chức; những việc cán bộ, công chức, viên chức không được làm; nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị; vi phạm đạo đức, lối sống hoặc vi phạm pháp luật khác khi thi hành công vụ thì bị xem xét xử lý kỷ luật. Được xác định theo 04 mức độ hành vi vi phạm như sau:

Vi phạm gây hậu quả ít nghiêm trọng.

Vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng.

Vi phạm gây hậu quả rất nghiêm trọng

Vi phạm gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng

6. Về các hình thức xử lý kỷ luật đối với công chức:

Đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, có 04 hình thức xử lý kỷ luật gồm: Khiển trách; Cảnh cáo; Hạ bậc lương; Buộc thôi việc;

Đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, có 05 hình thức xử lý kỷ luật gồm: Khiển trách; Cảnh cáo; Giáng chức; Cách chức; Buộc thôi việc;

+ Khiển trách với cán bộ, công chức: Gây hậu quả ít nghiêm trọng về đạo đức, văn hóa giao tiếp, thực hiện trách nhiệm, kỷ luật lao động, lợi dụng vị trí công tác nhằm mục đích vụ lợi…

+ Cảnh cáo với cán bộ, công chức: Gây hậu quả nghiêm trọng khi vi phạm các hành vi bị khiển trách…

+ Hạ bậc lương với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo: Công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý có hành vi vi phạm lần đầu, gây hậu quả rất nghiêm trọng thuộc một trong các trường hợp bị kỷ luật khiển trách.

Như vậy so với Nghị định 34/2011/NĐ-CP thì quy định mới của Nghị định 112/2020/NĐ-CP đã bỏ hình thức kỷ luật “Hạ bậc lương” đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.

+ Giáng chức với công chức giữ chức vụ quản lý, lãnh đạo: Có hành vi vi phạm lần đầu, gây hậu quả rất nghiêm trọng thuộc một trong các trường hợp bị khiển trách…

+ Cách chức với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý: Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thuộc một trong các hành vi bị khiển trách nhưng chưa đến mức buộc thôi việc, người vi phạm có thái độ tiếp thu, sửa chữa, chủ động khắc phục hậu quả và có nhiều tình tiết giảm nhẹ.

+ Buộc thôi việc với công chức: Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thuộc một trong các trường hợp bị khiển trách.

7. Bổ sung quy định tái phạm khi kỷ luật cán bộ, công chức

Đây là lần đầu tiên Chính phủ quy định cụ thể về vấn đề tái phạm khi kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức. Theo đó, khoản 8 Điều 2 Nghị định 112 nêu rõ: “Cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm lần đầu đã bị xử lý kỷ luật mà trong thời hạn 24 tháng kể từ ngày quyết định xử lý kỷ luật có hiệu lực có cùng hành vi vi phạm thì bị coi là tái phạm”

8. Bổ sung thẩm quyền xử lý kỷ luật đối với công chức đã nghỉ việc:

Theo khoản 18 Điều 1 của Luật Cán bộ Công chức và Luật Viên chức sửa đổi năm 2019 quy định: Mọi hành vi vi phạm trong thời gian công tác của công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu đều bị xử lý theo quy định của pháp luật; Công chức sau khi nghỉ việc hoặc nghỉ hưu mới phát hiện có hành vi vi phạm trong thời gian công tác thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm phải chịu một trong những hình thức kỷ luật khiển trách, cảnh cáo, xóa tư cách chức vụ đã đảm nhiệm gắn với hệ quả pháp lý tương ứng với hình thức xử lý kỷ luật. Nghị định 112 bổ sung quy định hoàn toàn mới về thẩm quyền xử lý kỷ luật đối với công chức đã nghỉ việc, cụ thể như sau:

- Trường hợp bị xử lý kỷ luật bằng hình thức xóa tư cách chức vụ, chức danh thì cấp có thẩm quyền phê chuẩn, quyết định phê duyệt kết quả bầu cử, bổ nhiệm vào chức vụ, chức danh cao nhất ra quyết định xử lý kỷ luật. Trong trường hợp này, cấp có thẩm quyền quyết định việc xử lý đối với các chức vụ, chức danh khác có liên quan.

- Trường hợp bị xử lý kỷ luật bằng hình thức khiển trách hoặc cảnh cáo thì cấp có thẩm quyền phê chuẩn, quyết định phê duyệt kết quả bầu cử, bổ nhiệm vào chức vụ, chức danh ra quyết định xử lý kỷ luật.

Bảo Uyên - Văn Phòng 
Tin đã đưa