Tin hoạt động kho bạc nhà nước Ninh Thuận
Tin hoạt động kho bạc nhà nước Ninh Thuận
Các chỉ số đo lường hiệu quả cải cách hành chính đang được áp dụng. 
04/06/2020 
 

Cải cách hành chính (CCHC) là yêu cầu khách quan của mọi nền hành chính và của bất cứ quốc gia nào. CCHC là quá trình cải biến có kế hoạch cụ thể để đạt mục tiêu hoàn thiện một hay một số nội dung của nền hành chính nhà nước (thể chế, tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức, tài chính công, v.v.) nhằm xây dựng nền hành chính công đáp ứng yêu cầu của một nền hành chính hiệu lực, hiệu quả và hiện đại.

 Với Việt Nam, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam từ các kỳ Đại hội về cải cách nền hành chính nhà nước được thể hiện nhất quán trong các văn kiện, các nghị quyết Trung ương. Đại hội đại biểu toàn quốc khóa XI khẳng định: Đẩy mạnh CCHC, nâng cao hiệu lực, hiệu quả về kinh tế, xã hội. Đẩy mạnh công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN trên 4 mặt: chức năng, nhiệm vụ; tổ chức, bộ máy; cán bộ và phương thức hoạt động. Định rõ những việc nhà nước phải làm và đảm bảo đủ các điều kiện để làm tốt; đồng thời khắc phục tình trạng chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan Đảng và Nhà nước. Hiện đại hóa nền hành chính nhà nước. Chính phủ đã ban hành nhiều nghị quyết liên quan đến CCHC, nhất là công tác xây dựng pháp luật, đơn giản hóa thủ tục hành chính. Điều chỉnh chức năng của Chính phủ đúng với vai trò là cơ quan chức năng cao nhất. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII tiếp tục xác định: “Đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước theo hướng dân chủ, hiện đại, chuyên nghiệp năng động, phục vụ nhân dân, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả”. Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2011 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2011 - 2020; Quyết định số 225/QĐ-TTg ngày 04 tháng 2 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2016-2020.

Theo Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước (HCNN) giai đoạn 2011 – 2020, với mục đích xây dựng nền hành chính công theo hướng dân chủ, hiện đại, chuyên nghiệp năng động, phục vụ nhân dân, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Thể hiện qua các nội dung: Cải cách thể chế HCNN; Cải cách thủ tục HCNN; Cải cách tổ chức bộ máy HCNN; Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; Cải cách tài chính công; Hiện đại hóa nền hành chính.

Hiện nay trong phạm vi Quốc gia và địa phương đã và đang sử dụng các bộ chỉ số để đo lường chất lượng phục vụ hành chính, là những yếu tố quan trọng phản ánh kết quả công tác CCHC của các bộ, ngành, địa phương. Đó là:

1. Chỉ số PCI (Provincial Competitiveness Index): Là chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, đánh giá và xếp hạng chính quyền cấp tỉnh về chất lượng điều hành kinh tế và xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho việc phát triển doanh nghiệp dân doanh. PCI được xem là một công cụ chính sách, hướng tới thay đổi thực tiễn. Có tất cả 10 chỉ số thành phần  111 chỉ tiêu, với thang điểm 100 nhằm đánh giá và xếp hạng các tỉnh về chất lượng điều hành cấp tỉnh. Những chỉ số đó là: Gia nhập thị trường; Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất; Tính minh bạch; Chi phí thời gian; Chi phí không chính thức; Tính năng động của lãnh đạo tỉnh; Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp; Đào tạo lao động; Thiết chế pháp lý; Cải cách hành chính (bổ sung từ năm 2012). Một địa phương được coi là có chất lượng điều hành tốt khi có: chi phí gia nhập thị trường thấp; tiếp cận đất đai dễ dàng và sử dụng đất ổn định; môi trường kinh doanh minh bạch và thông tin kinh doanh công khai; chi phí không chính thức thấp; thời gian thanh tra, kiểm tra và thực hiện các quy định, thủ tục hành chính nhanh chóng; môi trường cạnh tranh bình đẳng; lãnh đạo năng động, sáng tạo trong giải quyết vấn đề cho doanh nghiệp; dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp phát triển, chất lượng cao; chính sách đào tạo lao động tốt và  thủ tục giải quyết tranh chấp công bằng, hiệu quả.

2. Chỉ số PAPI (The Vietnam Provincial Governance and Public Administration Performance Index): Là chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh, công cụ theo dõi thực thi chính sách, phản ánh chân thực tiếng nói của người dân về mức độ hiệu quả điều hành, quản lý nhà nước, thực thi chính sách và cung ứng dịch vụ công của chính quyền các cấp. Chỉ số PAPI hướng tới cải thiện hiệu quả phục vụ nhân dân của chính quyền địa phương nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu ngày càng cao của nhân dân. PAPI đo lường trải nghiệm của người dân với việc thực thi chính sách, pháp luật, quy định của các cấp chính quyền địa phương ở sáu nội dung chính: Tham gia của người dân ở cơ sở; Công khai, minh bạch; Trách nhiệm giải trình với người dân; Kiểm soát tham nhũng; Thủ tục hành chính công; Cung ứng dịch vụ công. Từ năm 2018, PAPI có 8 chỉ số nội dung, gồm 6 chỉ số nội dung gốc và 2 chỉ số nội dung mới là quản trị môi trường và quản trị điện tử.

3. Chỉ số PAR INDEX (The Peer Assessment Rating Index): Theo Quyết định số 2636/QĐ-BNV, ngày 10 tháng 12 năm 2018 của Bộ Nội vụ phê duyệt đề án về: “Xác định Chỉ số cải cách hành chính của các Bộ, cơ quan ngang Bộ và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”.

PAR Index là chỉ số CCHC, là công cụ quan trọng để theo dõi, đánh giá hoạt động CCHC được Bộ Nội vụ ban hành tại Quyết định số 1294/QĐ-BNV ngày 03/12/2012 về phê duyệt Đề án "Xác định chỉ số CCHC của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương" với mục tiêu: Xác định Chỉ số CCHC để theo dõi, đánh giá một cách thực chất, khách quan, công bằng kết quả CCHC hàng năm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong quá trình triển khai thực hiện Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2011-2020.

PAR Index gồm đánh giá bên trong của cơ quan (có thẩm định của Hội đồng Thẩm định) và đánh giá bên ngoài của người dân. Nội dung của Chỉ số được xác định trên 8 lĩnh vực: Công tác chỉ đạo điều hành CCHC; Xây dựng và tổ chức thực hiện văn bản QPPL; Cải cách thủ tục hành chính; Cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ CBCCVC; Đổi mới cơ chế tài chính đối với cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập; Hiện đại hóa nền hành chính; Thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông. Tổng điểm của PAR Index là 100 điểm với phương pháp đánh giá như sau: thông qua kết quả tự chấm điểm của địa phương với số điểm tối đa là 62/100 điểm và kết quả điều tra xã hội học với số điểm tối đa là 38/100 điểm.

4. Chỉ số SIPAS (Satisfaction Index of Public Administrative Services): Theo Quyết định số 915/QĐ-BNV, ngày 20 tháng 4 năm 2016 của Bộ Nội vụ ban hành Quyết định: “Về việc phê duyệt và công bố Chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước năm 2015”.  

Chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính (SIPAS) là kết quả mang tính định hướng của việc đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước. Chỉ số SIPAS là thước đo mang tính khách quan, phản ánh trung thực kết quả đánh giá của người dân, tổ chức về sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước thông qua việc cung cấp các dịch vụ hành chính công cụ thể. Chỉ số SIPAS được đo lường thông qua điều tra xã hội học với người dân, tổ chức đã giải quyết thủ tục hành chính (đã hoàn thành và nhận kết quả) ở các dịch vụ hành chính công được lựa chọn khảo sát. Thông tin điều tra xã hội học được thu thập trên các phiếu hỏi, được phát tới người dân, tổ chức, gồm khoảng 20 câu hỏi khảo sát trên 04 tiêu chí:

- Tiếp cận dịch vụ;

- Thủ tục hành chính;

- Sự phục vụ của công chức;

- Kết quả giải quyết công việc của cơ quan hành chính nhà nước.

Với mỗi tiêu chí, người dân, tổ chức đưa ra đánh giá về sự hài lòng và đánh giá chung về sự hài lòng đối với toàn bộ dịch vụ theo thang đánh giá 5 mức: (1) Rất hài lòng, (2) Không hài lòng, (3) Bình thường, (4) Hài lòng  (5) Rất hài lòng.

Chỉ số SIPAS được tính toán dựa trên tỷ lệ phần trăm số người dân, tổ chức có câu trả lời về toàn bộ dịch vụ. Phương pháp đo lường này cung cấp các chỉ số thành phần theo từng tiêu chí của dịch vụ, các chỉ số đánh giá chất lượng phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước theo từng yếu tố của dịch vụ, giúp cơ quan quản lý phân tích, xác định cụ thể mức độ hài lòng của người dân.

5. Chỉ số DDCI (Department and District Competitiveness Index): là Bộ chỉ số đánh giá năng lực điều hành cấp sở, ban, ngành và địa phương thuộc tỉnh.

Khảo sát DDCI trên cơ sở thăm dò mức độ hài lòng của nhà đầu tư, doanh nghiệp, hộ kinh doanh cá thể, hợp tác xã đang đầu tư, hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh để nghiên cứu giải pháp để nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh hàng năm, đồng thời đề xuất giải pháp nhằm chấn chỉnh, khắc phục những hạn chế, tồn tại của những lĩnh vực được khảo sát.

Tại Ninh Thuận, DDCI bao gồm 07 chỉ số thành phần liên quan tới môi trường kinh doanh: (1) Tính minh bạch và tiếp cận thông tin; (2) Chi phí thời gian; (3) Chi phí không chính thức; (4) Cạnh tranh bình đẳng; (5) Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp; (6) Thiết chế pháp lý; (7) Vai trò người đứng đầu; (8) Tính năng động và hiệu lực của hệ thống.

Tiếp tục tạo sự cạnh tranh, thi đua về chất lượng điều hành kinh tế giữa chính quyền các huyện, thành phố và các sở, ban, ngành, từ đó tạo động lực cải cách một cách quyết liệt, đồng bộ trong việc nâng cao chất lượng giải quyết thủ tục hành chính liên quan đến nhà đầu tư, doanh nghiệp; tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh trên các lĩnh vực.

Tạo kênh thông tin tin cậy, rộng rãi và minh bạch để nhà đầu tư, doanh nghiệp tham gia đóng góp ý kiến xây dựng chính quyền địa phương và các sở, ban, ngành.

Trên cơ sở đó đánh giá công tác điều hành của chính quyền địa phương và các sở, ban, ngành trong năm, nghiên cứu giải pháp để nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh những năm tiếp theo, đồng thời đề xuất giải pháp nhằm chấn chỉnh, khắc phục những hạn chế, tồn tại của những lĩnh vực được khảo sát.

Với mục tiêu tiếp tục nâng cao chất lượng phục vụ các đơn vị sử dụng ngân sách, doanh nghiệp và người dân, góp phần hoàn thành mục tiêu của Chiến lược phát triển KBNN đến năm 2020, hình thành Kho bạc điện tử, hướng tới hình thành “Kho bạc số”, Kho bạc Nhà nước Ninh Thuận đang khẩn trương thực hiện các nhiệm vụ của kế hoạch năm 2020, phấn đấu tăng thứ bậc xếp hạng thực hiện các chỉ số liên quan, góp phần hoàn thành toàn diện kế hoạch, chương trình tổng thể CCHC giai đoạn 2011-2020 đã đề ra./.

Một số hình ảnh của KBNN Ninh Thuận:

KBNN Ninh Thuận tập huấn hướng dẫn sử dụng Hệ thống dịch vụ công trực tuyến Kho bạc Nhà nước cho cho đơn vị giao dịch.

KBNN Ninh Thuận tập huấn hướng dẫn sử dụng Hệ thống quản lý văn bản đi đến và hồ sơ công việc cho cán bộ công chức các phòng nghiệp vụ, Văn phòng và KBNN huyện.

Bắc Hà 
Tin đã đưa
(04/08)
(02/08)
(29/07)
(28/07)
(20/07)
(30/06)
(29/06)
(05/06)
(01/06)
(19/05)