1. Đối với UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm ban hành các văn bản thuộc thẩm quyền về quản lý bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp để chỉ đạo các cấp, ngành, các tổ chức, hộ gia đình, các cá nhân và cộng đồng cư dân thôn thực hiện các quy định của pháp luật; chỉ đạo thực hiện công tác giao, cho thuê, thu hồi rừng và đất lâm nghiệp; quản lý hệ thống các khu rừng đặc dụng, phòng hộ, rừng sản xuất theo quy định của pháp luật…
2. Đối với UBND huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh có rừng có trách nhiệm triển khai thực hiện các quy định của pháp luật, chính sách, chế độ Nhà nước về quản lý, bảo vệ rừng, phát triển rừng, sử dụng rừng và đất lâm nghiệp; tổ chức thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, khai thác lâm sản theo quy định của pháp luật; theo dõi, kiểm tra thực hiện các quy định về giao đất giao rừng và khoán bảo vệ rừng cho các hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng…
3. Đối với UBND xã, phường, thị trấn có rừng có trách nhiệm quản lý diện tích, ranh giới các khu rừng, các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn; tổ chức việc lập, thực hiện quy hoạch, kế hoạch, phương án bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn có theo quy định của pháp luật. Nhà nước hỗ trợ kinh phí cho UBND cấp xã tổ chức bảo vệ rừng tại cơ sở với mức 100.000đồng/ha/năm để tổ chức quản lý bảo vệ rừng đối với diện tích rừng do UBND cấp xã trực tiếp quản lý.
Quyết định này có hiệu lực thực thi từ ngày 30 tháng 3 năm 2012 và thay thế cho quyết định số 245/1998/QĐ-TTg ngày 21 tháng 12 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ./.