Định hướng phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 

I/ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN:

Mục tiêu tổng quát phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Ninh Thuận đến năm 2020 đó là: Xây dựng Ninh Thuận trở thành điểm đến của Việt Nam trong tương lai, có hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, có khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng tránh thiên tai.

Phát triển kinh tế-xã hội nhanh, bền vững theo mô hình kinh tế “xanh, sạch”; chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp và dịch vụ gắn với việc giải quyết các vấn đề xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân; bảo đảm quốc phòng an ninh, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội.

Phấn đấu, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm GDP giai đoạn 2011-2015 đạt 16-18%/năm và giai đoạn 2016-2020 đạt 19-20%/năm; GDP/người theo giá thực tế đến năm 2015 đạt khoảng 1.400 USD, bằng 70% mức bình quân chung của cả nước và đến năm 2020 đạt khoảng 2.800 USD, bằng 87,5% mức bình quân chung của cả nước.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh dần tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ và giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp. Đến năm 2015 tỷ trọng ngành công nghiệp-xây dựng đạt 40%; ngành nông – lâm – thủy sản đạt 25%; các ngành dịch vụ đạt 35% và năm 2020 tỷ trọng các ngành tương ứng đạt 52% - 20% - 28%.

II/ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN, KÊU GỌI ĐẦU TƯ CÁC NGÀNH, LĨNH VỰC VÀ KẾT CẤU HẠ TẦNG KINH TẾ-XÃ HỘI

1. Định hướng phát triển và kêu gọi đầu tư các ngành, lĩnh vực

Tập trung ưu tiên phát triển 6 nhóm ngành gồm: Năng lượng, du lịch, nông lâm, thủy sản, sản xuất chế biến và 2 nhóm ngành phụ trợ là giáo dục-đào tạo, xây dựng và kinh doanh bất động sản; đến năm 2020 mục tiêu phát triển 6 nhóm ngành đóng góp 91% GDP và giải quyết 85% lao động của toàn tỉnh, cụ thể:

a) Phát triển nhóm ngành năng lượng

Mục tiêu là xây dựng Ninh Thuận trở thành trung tâm năng lượng sạch của cả nước, mà trọng tâm là điện hạt nhân và năng lượng tái tạo. Phấn đấu đến năm 2020 cụm ngành này đóng góp 11% GDP của tỉnh và giải quyết 5-8% nhu cầu năng lượng quốc gia, chiếm 8% lao động xã hội.

Các định hướng chính về phát triển cụm ngành công nghiệp năng lượng: Ngoài nguồn lực Trung ương đầu tư 2 nhà máy điện hạt nhân tại Ninh Thuận với quy mô công suất 4.000 MW, nhà máy thứ nhất dự kiến khởi công vào năm 2014 và đi vào vận hành vào năm 2020; tập trung huy động các nguồn lực đầu tư từ bên ngoài để phát triển cụm ngành này, đặc biệt là huy động tối đa nguồn vốn FDI để đẩy mạnh phát triển năng lượng tái tạo bao gồm điện gió, điện mặt trời và phát triển thủy điện, cụ thể:

(1) Thu hút đầu tư các dự án năng lượng gió, năng lượng mặt trời ở các khu vực có tiềm năng theo quy hoạch phát triển, với quy mô từ 1.500 – 2.000 MW, từng bước hình thành vùng trọng điềm năng lượng sạch của quốc gia.

(2) Phát triển loại hình thủy điện tích năng đầu tiên trên cả nước với quy mô 1.200 MW trên hệ thống thủy lợi Tân Mỹ, dự kiến hoàn thành và đi vào hoạt động vào năm 2020.

Các dự án ưu tiên kêu gọi đầu tư: Dự án phong điện, điện mặt trời, chế tạo thiết bị Turbin gió và các công nghiệp, dịch vụ phụ trợ ngành năng lượng hạt nhân, năng lượng gió…

b) Du lịch

- Phát triển du lịch Ninh Thuận theo hướng phát triển toàn diện để khai thác tiềm năng và lợi thế của tỉnh, bao gồm du lịch biển, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa và dịch vụ phục vụ du lịch. Từng bước hình thành các khu du lịch trọng diểm của cả nước và khu vực Đông Nam Á với các loại hình du lịch độc đáo, có chất lượng dịch vụ tốt nhất, sản phẩm du lịch đa dạng. Phấn đấu đến năm 2020 cụm ngành này đóng góp 12% GDP của tỉnh và giải quyết 13% lao động xã hội.

- Định hướng phát triển ngành du lịch theo 3 hướng như sau:

* Phát triển du lịch biển, với khâu đột phá là đầu tư cải thiện mạnh mẽ điều kiện hạ tầng giao thông, tạo kết nối cao giữa các khu du lịch với các trục quốc lộ, nhất là tuyến đường ven biển từ Bình Tiên đến Cà Ná dài 116 km, kết nối các khu du lịch biển với Cảng hàng không quốc tế Cam Ranh; đi đôi với đào tạo phát triển nguồn nhân lực cho ngành du lịch theo hướng chuyên nghiệp, xây dựng tỉnh Ninh Thuận thành một trong những vị trí chiến lược trong mạng lưới du lịch của cả nước và khu vực.

* Hình thành các dịch vụ chất lượng cao, tiến tới xây dựng Ninh Thuận trở thành một điểm đến hấp dẫn. Tăng nguồn lực đầu tư đúng mức cho các sản phẩm đặc thù có lợi thế của tỉnh, như rượu vang kết hợp loại hình du lịch nghỉ dưỡng- Spa nho, du thuyền, hình thành các khu Resort quy mô lớn, hiện đại, chất lượng dịch vụ cao, tạo sự khác biệt có tính cạnh tranh cao so với các tỉnh trong khu vực, nhằm cung cấp các sản phẩm du lịch tốt nhất để thu hút du khách trong và ngoài nước.

* Phát triển ngành du lịch theo hướng gắn với các lợi thế sẵn có của địa phương với các loại hình du lịch hiện đại, chuyên nghiệp.

- Các ngành du lịch trụ cột phát triển trong thời gian tới, bao gồm:

(1) Phát triển loại hình du lịch thuyền buồm cao cấp, hướng đến đối tượng khách du lịch có thu nhập cao; hình thành Câu lạc bộ du thuyền, phát triển từ 100 đến 200 du thuyền tại vịnh Vĩnh Hy.

(2) Hình thành các cơ sở du lịch nghỉ dưỡng gắn với loại hình Spa cao cấp, có thương hiệu quốc tế, sử dụng nguyên liệu đặc thù của Ninh Thuận.

(3) Phát triển loại hình du lịch kết hợp thưởng thức rượu vang nho, trở thành điểm đến quan trọng nhất trong khu vực Đông Nam Á.

(4) Khai thác các lợi thế về điều kiện tự nhiên, đặc thù về nắng và gió để phát triển các môn dịch vụ trên không và dưới nước như kéo dù, bơi lội dưới nước ngắm rạng san hô, đua môtô trên cát.

(5) Hình thành các tour du lịch sinh thái và các khu du lịch nghỉ dưỡng cao cấp thân thiện với môi trường.

(6) Phát triển mạnh loại hình du lịch văn hóa gắn với các khu di tích Chăm và các làng nghề truyền thống.

Các dự án ưu tiên kêu gọi đầu tư: Xây dựng các villa, khu nghĩ dưỡng cao cấp ven biển; khách sạn tiêu chuẩn quốc tế từ 5 sao trở lên; các loại hình du lịch câu lạc bộ du thuyền, thể thao trên biển; du lịch chăm sóc sức khỏe; du lịch sinh thái, du lịch văn hóa.

c) Nông, lâm nghiệp, thủy sản

Phát triển ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao chất lượng tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành để nâng cao hiệu quả, bảo đảm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn gắn với thực hiện chính sách an sinh xã hội. Phấn đấu đến năm 2020 cụm ngành nông lâm thủy sản đóng góp 20% GDP của tỉnh và giải quyết 29% lao động xã hội.

+ Về nông nghiệp: Đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ mới, nhất là công nghệ sinh học, nâng cao giá trị sử dụng đất; tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân 6-7%/năm; ổn định diện tích trồng lúa 17.000 – 18.000 ha, sản lượng hàng năm đạt 200.000 – 220.000 tấn; nâng cao chất lượng đàn gia súc, phát triển mô hình chăn nuôi trang trại tập trung gắn với công nghiệp chế biến, nâng tỷ lệ sind hóa đàn bò, đến năm 2015 đạt 38% và đến năm 2020 đạt 45%.

+ Về thủy sản: Phát huy lợi thế về sản xuất giống thủy sản, phát triển vùng sản xuất giống tập trung An Hải, Nhơn Hải và nghề nuôi tôm thịt gắn với công nghiệp chế biến xuất khẩu; đẩy mạnh nghề khai thác thủy sản xa bờ; tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân đạt 7-8%/năm. Mục tiêu đến năm 2015 sản lượng tôm giống đạt 11,5 tỷ con giống, diện tích nuôi tôm đạt 1.200 – 1.300 ha, sản lượng tôm thịt đạt 13.000 tấn; sản lượng hải sản đánh bắt xa bờ đạt 60.000 tấn, giá trị xuất khẩu thủy sản đạt 100 triệu USD. Đến năm 2020 tương ứng chỉ tiêu trên đạt 17 tỷ con giống, 1.200 – 1.300 ha, 20.000 tấn, 65.000 tấn và 150 triệu USD.

+ Về lâm nghiệp: Nâng cao hiệu quả sử dụng đất và nâng cao chất lượng độ che phủ rừng một cách hợp lý, bảo đảm phát triển nông nghiệp bền vững. Bảo vệ, chăm sóc rừng hiện có, tích cực trồng mới, khoanh nuôi, tái sinh rừng, phát triển cây cao su theo hướng sản xuất hàng hóa trên vùng đất nghèo kiệt ở các huyện: Bác Ái, Ninh Sơn; mục tiêu đến năm 2015 độ che phủ rừng đạt trên 45% và đến năm 2020 đạt khoảng 50%.

Các dự án ưu tiên kêu gọi đầu tư: Thành lập các trung tâm nghiên cứu, đào tạo, chuyển giao công nghệ về nông nghiệp, giống thủy sản chất lượng cao; xây dựng nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu; nhà máy chế biến các sản phẩm từ nho; nhà máy chế biến thịt gia súc gia cầm…; Dự án sản xuất hóa chất sau muối.

đ) Về công nghiệp

Phát triển ngành công nghiệp giai đoạn tới theo hướng công nghiệp sạch, thân thiện môi trường, tiết kiệm năng lượng, phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế của tỉnh, có giá trị gia tăng cao, tạo tăng trưởng đột phá để chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao hiệu quả của nền kinh tế. Mục tiêu đến năm 2020 ngành công nghiệp đóng góp 12% GDP và giải quyết 13% lao động xã hội.

+ Tập trung phát triển các ngành công nghiệp chế biến có lợi thế như công nghiệp sản xuất muối và hóa chất sau muối, công nghiệp chế biến thực phẩm và đồ uống, mở rộng diện tích sản xuất muối đạt từ 4.000 – 5.000 ha, sản lượng đạt 450.000 – 500.000 tấn/năm và phát triển các sản phẩm hóa chất sau muối như: Muối cao cấp, xút Magiê-Clo, sản lượng đạt 200.000 – 250.000 tấn/năm, đầu tư xây dựng từ 1- 2 nhà máy chế biến tôm xuất khẩu, quy mô mỗi nhà máy đạt 10.000 tấn/năm; nhà máy chế biến thịt gia súc, gia cầm, sản xuất bia, rượu nho gắn với việc hình thành các khu du lịch sinh thái.

- Phát triển mạnh ngành công nghiệp chế biến thực phẩm và đồ uống với nguồn nguyên liệu chủ động và là những sản phẩm có lợi thế của địa phương, hình thành từ 01 đến 02 nhà máy chế biến tôm xuất khẩu quy mô từ 10.000 – 20.000 tấn/năm, nhà máy chế biến nhân điều quy mô 10 – 20 ngàn tấn/năm, nhà máy chế biến thịt gia súc, gia cầm với sản phẩm có lợi thế từ ngành chăn nuôi của địa phương như dê, cừu quy mô 3.000 tấn/năm; phát triển nhà máy sản xuất rượu nho gắn với việc hình thành các khu du lịch sinh thái.

- Phát triển mạnh ngành công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản như quặng Titan. Từng bước hình thành các ngành công nghiệp mới như sản xuất đồ gỗ, hóa chất sau muối, các sản phẩm tiêu dùng khác.

- Phát triển mạnh các ngành công nghiệp phụ trợ phục vụ cho sản xuất công nghiệp như lắp ráp, gia công cơ khí, sản xuất các linh kiện cơ khí phục vụ cho các nhà máy sản xuất điện.

+ Phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp: Giai đoạn 2011-2015 tập trung hoàn thành đầu tư cơ sở hạ tầng KCN Du Long và KCN Phước Nam giai đoạn 2016 – 2020 phát triển KCN Hiếu Thiện và KCN Cà Ná. Mỗi huyện đầu tư xây dựng 1-2 cụm công nghiệp với quy mô khoảng 30 – 50 ha. Ưu tiên phát triển 8 cụm công nghiệp: Thành Hải, Tháp Chàm (Tp.Phan Rang-Tháp Chàm), Cà Ná (Thuận Nam), Tri Hải (Ninh Hải), Tân Sơn, Quảng Sơn (Ninh Sơn), Phước Thắng (Bác Ái), Suối Đá (Thuận Bắc).

Các dự án ưu tiên kêu gọi đầu tư: Các dự án sản xuất Turbin gió, đóng tàu du lịch (thuyền buồm); Sản xuất thiết bị y tế và sản xuất các loại động cơ xe máy sử dụng năng lượng tái tạo; nhà máy sản xuất ôtô “sạch”; Chế biến đá granitte.

đ) Xây dựng và kinh doanh bất động sản, phát triển các khu đô thị mới

Phát triển ngành xậy dựng và kinh doanh bất động sản nhằm bảo đảm xây dựng một môi trường sống tốt, phát triển theo hướng bền vững, thân thiện với môi trường, phát triển hệ thống giao thông liên vùng thuận tiện có tính kết nối cao và xây dựng một thị trường bất động sản có giá cả hợp lý, có sự khác biệt và có sức cạnh tranh cao. Phấn đấu đến năm 2020 mục tiêu của cụm ngành này chiếm 37% GDP và giải quyết 25% lao động xã hội.

Phát triển ngành xây dựng trở thành ngành kinh tế mạnh, hình thành các doanh nghiệp hoạt động xây dựng có năng lực về tài chính và trình độ chuyên môn cao, có nguồn nhân lực mạnh để triển khai các công trình dự án có quy mô lớn, yêu cầu trình độ kỹ thuật phức tạp. Phát triển mạnh nguồn nguyên liệu cung cấp vật liệu xây dựng như xi-măng với 2 nhà máy quy mô 2 triệu tấn/năm, cát, đá…; đồng thời phát triển mạnh các ngành dịch vụ xây dựng như dịch vụ tư vấn thiết kế kiến trúc, dịch vụ xây dựng công trình, hình thành các doanh nghiệp xây lắp có năng lực về tài chính và năng lực kỹ thuật đáp ứng tốt nhất cho các công trrình có trình độ kỹ thuật hiện đại; phát triển các ngành cơ khí, sản xuất các phụ tùng, thiết bị phục vụ cho các ngành công nghiệp, năng lượng.

+ Từng bước hình thành thị trường bất động sản của cả nước, trên cơ sở phát triển quỹ đất đủ lớn, để đáp ứng yêu cầu cho các dự án có quy mô lớn dự kiến triển khai trong giai đoạn tới; phát triển thị trường nhà ở cho thuê, các khu văn phòng cao cấp.

+ Tận dụng lợi thế về địa kinh tế để hình thành các khu đô thị tập trung, có quy mô hợp lý, hình thành các Trung tâm kinh tế của từng vùng, đô thị hóa nông thôn và đáp ứng tốt các yêu cầu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp và dịch vụ. Tập trung phát triển các khu đô thị cao cấp ở thành phố Phan Rang-Tháp Chàm là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học công nghệ của tỉnh, là đô thị hạt nhân của các khu vực xung quanh thành phố, là đầu mối giao thông liên vùng. Xây dựng thành phố trở thành trung tâm thương mại – dịch vụ của tỉnh.

Các dự án ưu tiên kêu gọi đầu tư: Xây dựng các khu, cụm công nghiệp; Xây dựng hạ tầng giao thông; dự án xử lý chất thải; Xây dựng các khu đô thị, trung tâm thương mại quy mô lớn; Bệnh viên chuyên khoa tiêu chuẩn quốc tế; Xây dựng cảng biển và dịch vụ hậu cần cảng biển; Xây dựng các tòa nhà cao ốc, các khu chung cư cao cấp; Xây dựng các khách sạn, khu du lịch đạt chuẩn 5 sao.

e) Giáo dục và đào tạo

Phát triển Giáo dục-Đào tạo một cách toàn diện, đồng bộ cả về quy mô, chất lượng và cơ sở vật chất và quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên, bảo đảm học sinh trong độ tuổi đi học được đến trường đạt tỷ lệ cao nhất, giảm sự chênh lệch về Giáo dục-Đào tạo giữa các vùng miền trong tỉnh. Phấn đấu đến năm 2020 mục tiêu cụm ngành này chiếm 3% GDP của tỉnh và giải quyết 0,2% lao động xã hội.

Phát triển mạng lưới trường, lớp ở các cấp học đạt chuẩn quốc gia, chú trọng phát triển nhà trẻ mẫu giáo theo hướng xã hội hóa. Phấn đấu đến năm 2015 đạt 30% số trường đạt chuẩn quốc gia, 50% học sinh tiểu học được học 2 buổi/ngày và 10% trường mầm non đạt chuẩn quốc gia; đến năm 2020 các chỉ tiêu tương ứng trên đạt 50%, 60% và 20%.

- Đầu tư, nâng cấp mở rộng các cơ sở hiện có, đặc biệt đào tạo nghề. Nâng cao chất lượng của các cơ sở dạy nghề và phát triển các cơ sở dạy nghề phù hợp với nhu cầu của các ngành tăng trưởng trong tương lai.

- Việc phát triển các cơ sở điện hạt nhân và năng lượng tái tạo, sẽ là một động lực quan trọng cho việc thành lập và phát triển các Trung tâm đào tạo chất lượng cao tại địa phương, nhằm bảo đảm nguồn nhân lực phục vụ cho ngành năng lượng sạch.

- Phát huy vị thế mới của Ninh Thuận là trung tâm sản xuất năng lượng sạch của quốc gia, để thu hút các trung tâm đào tạo có thương hiệu, có uy tín trong nước và trên thế giới đến đầu tư thành lập các cơ sở giáo dục đào tạo, tập trung vào lĩnh vực năng lượng sạch và các ngành hỗ trợ khác có liên quan. Tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng hỗ trợ chất lượng cao như thư viện và chỗ ở phục vụ cho sinh viên, thúc đẩy phát triển một môi trường giáo dục đào tạo sôi động để thu hút sinh viên trong cả nước đến học tập, nghiên cứu các ngành năng lượng và các lĩnh vực khác.

Phấn đấu đến năm 2015 cơ bản đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực có tay nghề cho phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh. Giai đoạn 2016-2020 đào tạo nghề cho lao động trong tỉnh và các tỉnh trong khu vực. Nâng cao hiệu quả hoạt động của Phân hiệu Đại học Nông Lâm; thành lập các cơ sở Đại học Thủy lợi và Điện lực; nâng cấp Trường Cao đẳng Sư phạm Ninh Thuận thành Trường Cao đẳng đa ngành. Xúc tiến chuẩn bị đầy đủ các điều kiện để sau năm 2015 thành lập trường Đại học Ninh Thuận, đồng thời kêu gọi đầu tư xây dựng tại tỉnh các cơ sở đào tạo đạt tiêu chuẩn quốc tế.

Các dự án ưu tiên kêu gọi đầu tư: Thành lập các trường đại học, Trường dạy nghề tiêu chuẩn quốc tế các lĩnh vực năng lượng, cơ khí chế tạo và du lịch.

2. Xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng

a) Hạ tầng giao thông

- Đường bộ: Ưu tiên đầu tư xây dựng các trục giao thông kết nối 2 hành lang quốc lộ 1A và tuyến đường ven biển, trục ngang quốc lộ 27 kết nối với tỉnh Lâm Đồng và các tỉnh Tây Nguyên, cầu Đông Hải-Phú Thọ (cầu An Đông). Nâng cấp các tuyến quốc lộ: 1A, 27A, 27B, tuyến đường ven biển (Bình Tiên - Cà Ná), đường 703 nối quốc lộ 1A đến đường Yên Ninh và Hải Thượng Lãn Ông, đường Kiền Kiền đến Cảng hàng hóa Ninh Chữ, đường Văn Lâm-Sơn Hải. Xây dựng đường vành đai Tp.Phan Rang-Tháp Chàm gắn kết với quốc lộ 27 và các tuyến đường qua các huyện: Ninh Hải, Thuận Bắc, Bác Ái, Ninh Sơn, Ninh Phước, khu vực sân bay Thành Sơn đến KCN Du Long và khu vực các xã: Phước Thái, Phước Vinh (Ninh Phước); Ma Nới (Ninh Sơn). Hoàn thiện hệ thống giao thông nông thôn, miền núi và đường giao thông đến các vùng nguyên liệu; nâng cấp các tuyến đường huyện đạt tiêu chuẩn đường cấp VI và cấp V đồng bằng.

- Đường sắt: Triển khai đầu tư các tuyến đường sắt theo quy hoạch đến năm 2020 hoàn thành giai đoạn I cải tạo và nâng cấp đường sắt Bắc – Nam đoạn đường sắt cao tốc Nha Trang-Tp.Hồ Chí Minh đi qua tỉnh Ninh Thuận; nghiên cứu quy hoạch phục hồi tuyến đường sắt Đà Lạt-Tháp Chàm để phát triển du lịch và liên kết phát triển du lịch với Đà Lạt.

- Đường biển: Phát triển cảng biển Dốc Hầm, quy mô hàng hóa qua cảng 15 triệu tấn/năm; cảng hàng hóa Ninh Chữ tiếp nhận được tàu thuyển trọng tải 10.000 tấn; các cảng chuyên dụng phục vụ du lịch gồm Bình Tiên- Vĩnh Hy, Bình Sơn-Ninh Chữ để tiếp nhận các tàu du lịch trong nước; nâng cấp và mở rộng các cảng cá: Cà Ná, Đông Hải và Ninh Chữ làm nơi tránh trú bão cho tàu thuyền, quy mô mỗi cảng từ 500-1.000 chiếc và có khả năng tiếp nhận tàu có công suất từ 500-1.000 CV.

b) Thủy lợi

- Tập trung đầu tư các công trình thủy lợi để tăng năng lực tưới khoảng 50% diện tích đất nông nghiệp vào năm 2015 và 56% vào năm 2020. Đến năm 2015 hoàn thành đầu tư hệ thống thủy lợi hồ Tân Mỹ dung tích khoảng 219 triệu m3, hồ Sông Than, hồ Ô Căm, hồ Tân Giang II, hồ Tà Nôi, hồ Đa Mây (xã Phước Bình, huyện Bác Ái). Đầu tư xây dựng đập 19/5 mở rộng (Lâm Sơn), đập hạ lưu sông Dinh để ngăn mặn, giữ nguồn nước ngọt, làm thay đổi môi trường sinh thái và khai thác lợi thế khu vực hai bên bờ sông Dinh; đầu tư kiên cố hệ thống kênh mương, trong đó tập trung đầu tư kênh cấp I thuộc các hệ thống Nha Trinh-Lâm Cấm, Tân Giang và hệ thống kênh mương cấp II, III để phát huy hiệu quả các hồ chứa nước đã đầu tư.

c) Hệ thống cấp nước và thoát nước

- Mở rộng và nâng cấp mạng lưới cấp nước, xử lý nước thải Tp.Phan Rang-Tháp Chàm và các đô thị trong tỉnh; đầu tư hệ thống cấp nước, thoát nước và xử lý nước thải cho các KCN và các Nhà máy điện hạt nhân.

d) Cấp điện

- Nâng cấp và phát triển mạng lưới điện trên địa bàn tỉnh, bảo đảm 100% số hộ gia đình được sử dụng điện lưới quốc gia, đáp ứng 100% nhu cầu về điện sản xuất phù hợp với quy mô sản xuất ở các khu, cụm công nghiệp.

- Xây dựng trạm điện hạt nhân số 1 và số 2 (trạm 500 KV); phát triển lưới điện đấu nối các nguồn điện hạt nhân, nhiệt điện và điện gió nối với hệ thống điện quốc gia và mạng lưới cấp điện cho các phụ tải trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận; nâng cấp hệ thống lưới điện 15 KV (hiện có) lên 22 KV và từng bước thay thế đường dây nối 22 KV ở khu vực trung tâm các đô thị bằng cáp ngầm 22 KV.

- Xây dựng các trạm biến áp 220 KV, 110 KV phục vụ các KCN Du Long, Phước Nam, khu vực Dốc Hầm và cho Tp.Phan Rang-Tháp Chàm.

đ) Thông tin và truyền thông

- Mở rộng, nâng cấp và hiện đại hóa mạng bưu chính-viễn thông và thông tin truyền thông có dung lượng lớn, tốc độ cao, kết nối các địa phương trên cả nước và quốc tế; hiện đại hóa hệ thống phân phối và truyền dẫn công nghệ cao và cáp quang trên địa bàn tỉnh đến huyện, xã.

- Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước (Chính phủ điện tử) và giao dịch điện tử, tăng mật độ thuê bao điện thoại, đến năm 2015 đạt bình quân 34 thuê bao điện thoại/100 dân và đến năm 2020 tăng lên 50 thuê bao điện thoại /100 dân.

- Đảm bảo 100% xã có nút mạng, tiến hành cung cấp đa dịch vụ, tốc độ cao, số người sử dụng Internet đến năm 2015 là 50%, sau 2015 về cơ bản tất cả nhu cầu về sử dụng Internet đều được đáp ứng, mật độ thuê bao Internet đến năm 2015 đạt 6,4 thuê bao/100 dân và đến năm 2020 đạt 15 thuê bao/100 dân.